Thứ Hai, 11 tháng 5, 2015

THẰNG THỦY







Tháng trước về Đồng Hới nhân dịp giỗ mạ, mình gặp lại thằng Thủy, bạn học thời sinh viên, nay là đội phó thanh tra giao thông. Hắn lấy xe cơ quan đón mình ở sân bay rồi chở lên nghĩa trang Đá Bạc, ghé về ga Đồng Hới để mình mua cái vé chuyến 4h30 chiều vào Huế, xong hai thằng kéo nhau ra biển Nhật Lệ nhậu. Quá nữa câu chuyện cũng chỉ xoay quanh cái thời sinh viên ở Huế, kham khổ mà vui.
Hắn tên Đỗ Xuân Thủy, cùng quê Quảng Bình, học cùng lớp vật lí với mình ở Đại học Sư phạm Huế niên khóa 1981 – 1985. Nhà hắn ở Ba Đồn cách xã Quảng Thanh của mình có vài cây số, hắn hơn mình một tuổi học trước một khóa nên mặc dù cùng trường cấp 3 Bắc Quảng Trạch nhưng mình chỉ biết hắn khi vào Huế học đại học.

Thằng Thủy chả có gì đặc biệt, học hành làng nhàng, chẳng có tài cán gì nổi bật, lại cũng chẳng thuộc hàng điển giai trong lớp. Bù lại, mình rất quý hắn vì sự nhiệt tình hết lòng với bạn bè, rất mộc mạc, chất phác, thứ tính cách đặc trưng của dân miền trung quê bọ. 

Trừ chuyện học hành, mọi vấn đề còn lại của lớp hắn đều tham gia vô cùng nhiệt tình. Điều lạ là hắn quan tâm bàn luận mọi chuyện của lớp một cách hăng hái thái quá, từ chuyện nấu món gì ăn trong phiên lớp trực đêm, chuyện thăm cô giáo ốm đến chuyện đi picnic... Tất tần tật, hắn làm cứ như bộ đội bàn chuyện giải phóng miền Nam, miệng nói tay khoa, mặt mày nhăn nhó, khẩn trương vô cùng, chết cười. 

Mạ và cả anh chị mình đều thương hắn. Hồi ấy mình ở khu tập thể Đống Đa - Huế với mạ và anh chị còn thằng Thủy ở cư xá. Đói, ăn uống kham khổ, thiếu chất là tình trạng chung của sinh viên cả nước thời bao cấp. Để đủ năng lượng bù đắp cho cả một ngàn lẻ một hoạt động của tuổi thanh niên, sinh viên thời ấy thường tìm đủ mọi cách xoa dịu cái bao tử lúc nào cũng kêu gào, kể cả ăn cắp vặt. Mạ mình thường để dành một món gì đó ăn được để chờ thằng Thủy. Khi thì cái bánh tráng, khi thì gói kẹo mè xững, có khi chỉ là cơm nguội. Được cái thằng Thủy chẳng câu nệ gì, đến nhà câu trước chào mệ câu sau hắn hỏi ngay, có chi ăn không mệ. Thế rồi hắn xuống bếp khua khoắng với mệ xong mới lên nhà gặp mình. Sau khi tách tỉnh, anh chị mình về lại Đồng Hới, thằng Thủy cũng có công ăn việc làm ở Quảng Bình, gia đình vợ con hẳn hoi. Thi thoảng hắn vẫn ghé thăm mạ mình lúc này đã già yếu. Lần nào cũng thế, hỏi thăm xã giao anh chị vài câu xong là hắn đi thẳng vào phòng mạ mình chuyện trò hỉ hả như đôi bạn thân lâu ngày gặp lại. Trong những câu chuyện ấy, bao giờ hắn cũng nhắc về cái thời sinh viên cơ hàn ở Huế được mệ cho ăn bữa mô cũng ngon như tiệc.



                                                       Ba mươi năm về trước

Mình nhớ thời sinh viên thằng Thủy sợ nhất là môn tiếng Nga, trong khi đó là môn mình chỉ dạo chơi thôi nhưng điểm bao giờ cũng cao nhất lớp. Đối với hắn thì đó là thứ ngôn ngữ oái oăm nhất thế giới, chả ra một hệ thống cống rãnh gì cả, hi hi. Tới mùa thi tiếng Nga, thấy hắn ngồi bứt rứt nhăn nhó như khỉ phải ruốc, trông rất tội. Mình cũng vần T, mấy lần đưa bài cho nó chép nhưng không hiểu thế quái nào mà hắn cứ bị điểm dưới trung bình, phải thi lại liên miên. Lớp mình hồi ấy có con H rất xinh, hầu hết bọn con trai đều trồng cây si quanh nó và tơ tưởng được một lần con H đoái hoài, rốt cuộc cũng ngần ấy đứa đều bị con H cho ăn trái đắng. Mình hỏi thằng Thủy, mi có ưng con H không, hắn nhăn nhó cười, nói tau không có cửa, giọng hắn chùng xuống nghe như tiếng thở dài.

Thời sinh viên mình mê võ hơn mê gái, có thể nói sau học hành thì tâm trí mình dành chủ yếu cho không thủ đạo. Một lần mình rủ thằng Thủy ghi danh đi tập cùng, hắn cố được một tuần rồi nghỉ hẳn, hỏi tại sao thì hắn lại nhăn nhó, đói quá tập không nổi. Tuy thế, hắn lại rất ủng hộ mình tập võ, ngày mình mất chiếc xe đạp (thời ấy là cả gia tài), hắn tình nguyện đến chở mình đi tập, hết buổi lại đến đón về, có khi hắn để luôn xe đạp cho mình mượn cả tháng. Có hôm mình bị ăn đòn, miệng mồm rách toe, máu me đầy mặt, không dám về nhà, thằng Thủy chở mình về cư xá rồi lật đật đi xin muối hột về rịt vết thương cho mình. Điều làm mình cảm động và biết ơn thằng Thủy nhất là lần mình thi đậu đai nâu.Lần ấy nghe sư phụ công bố đậu đai nâu với điểm thủ khoa, mình khoái lắm nhưng đâm lo vì không biết đào đâu ra tiền để mua cái đai mới. Hôm ấy trên đường về, mình cũng chả nói năng gì, thằng Thủy còn nghèo kiết xác hơn cả mình, nói chỉ làm hắn thêm băn khoăn.

Thế mà không hiểu sao hắn biết chuyện, hai hôm sau thằng Thủy đến nhà mình, tay cầm lủng lẳng hai cái ống tay áo màu nâu, hắn cười hề hề, bảo mi cầm tạm bọc lại cái đai xanh thành đai nâu vậy, tau mặc áo cộc tay cũng mát. Trời ạ, thì ra hắn xé hai cái ống tay áo màu nâu của hắn đưa cho mình bọc đai. Giờ ngồi gõ những dòng này, nghĩ lại chuyện cũ mình vẫn thấy cay cay nơi sống mũi. Lên Tây Nguyên đi dạy học, mình mang theo cái đai nâu cơ khổ ấy làm kỷ niệm nhưng không biết mấy lần dọn nhà mất đi đâu tìm mãi không ra, tiếc đứt ruột.

Còn nhớ một kỷ niệm vui vui với thằng Thủy vào năm thứ tư đại học. Chả là sau lần đi thực tập ở một trường phổ thông ở Hương Thủy, chả biết phải giăng phải gió thế nào mà có một em khoa văn tên H (lại H) tình nguyện theo mình nâng…chim sửa bướm, he he. Ừ thì “của Tam Bảo để làm gì chẳng bóp”, mình chẳng từ chối em, cơ mà nàng cứ bám lẵng nhẵng quá, mọi nơi mọi lúc đâm ra phiền. Thậm chí nàng thường xuyên đến sân tập võ của mình từ đầu đến cuối. Thì cũng chỉ ngồi xem thôi nhưng mình rất khó chịu vì không muốn bất cứ ai làm mình phân tâm trong việc tập luyện. Đuổi nàng về cũng bất tiện mà để nàng ngồi đó càng bất tiện hơn. Bí quá mình nhờ thằng Thủy, nói mày làm sao đó thì làm, tau không muốn H có mặt ở sân tập. Chẳng biết thằng Thủy đã khủng bố nàng kiểu gì mà sau đó không bao giờ  thấy H lai vãng đến sân tập nữa. Hỏi thằng Thủy, hắn nhăn răng cười hề hề, tau nói đàn bà con gái cứ xem tập võ hồi hộp lâu ngày sẽ tắt luôn cả kinh, tuyệt đường con cái, không hiểu sao con H lại tin đến thế, hi hi…

Thằng Thủy dạo này trông hom hem đi nhiều nhưng tính cách nó thì vẫn thế, hăng hái, nhiệt tình y như xưa. Hắn nhấc điện thoại gọi một thôi một hồi rồi vò đầu bứt tai than tiếc là mình ghé Đồng Hới ít quá, lại trúng cái giờ không rủ thêm được thằng nào ra nhậu, chúng nó bận làm bận học cả. Mới hết vài lon bia, nhai chưa hết con mực nửa nắng đã phải lên xe ra ga tàu, thằng Thủy cẩn thận gói ghém con mực ăn dỡ, bảo lên tàu để mi nhậu tiếp. Ra được đến ga thì tàu đã khởi hành vài phút trước đó, lỡ mất nhiều việc của mình ở Huế. Thằng Thủy thì mừng ra mặt, nói è he có chuyện kít chi mà quan trọng, ra biển nhậu tiếp. Thế là mình mua một cái vé khác chuyến 7h30 tối rồi theo thằng Thủy biển Nhật Lệ thẳng tiến. Vừa leo lên xe chưa kịp nổ máy thằng Thủy đã vỗ đùi đánh đét một phát, cứ như trời sắp sập tới nơi, hắn kêu trời ơi tiếc quá! Minh tròn mắt, hỏi cái gì thế Thủy? Thằng Thủy nhăn nhó, biết mi đi chuyến bảy rưỡi tau vô Lệ Thủy chở thằng Ngọc về nhậu là kịp rồi.

Có những thằng bạn ở đời, chỉ cần nghĩ đến thôi đã thấy ấm lòng.

Dalat, tháng 5 - 2015

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

Trịnh Công Sơn nối linh thiêng vào đời

Kỷ niệm 14 năm Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ tài hoa với con tim tràn đầy yêu thương giã từ cõi tạm,  mình có bài này đăng trên báo Một Thế Giới. Bài đạt giải khuyến khích trong cuộc thi viết về Nhạc Trịnh Trong Tôi 2015 chủ đề "Nối vòng tay lớn".
http://motthegioi.vn/van-hoa-giai-tri/ca-nhac/cong-bo-giai-thuong-nhac-trinh-trong-toi-170373.html 

Đăng Bởi Một Thế Giới - 17:00 23-03-2015

Con người là loài sinh vật tuyệt đối cô đơn trong vũ trụ này. Hắn sinh ra một mình, bước đi giữa đời một mình và cuối cùng qua bên kia thế giới cũng chỉ một mình.


Chứng kiến những mất mát của người thân, những chết chóc đau thương trên quê hương đất nước do chiến tranh tàn khốc gây ra, Trịnh Công Sơn, với trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ, có lẽ là người hiểu rất rõ nỗi cô đơn của phận người và giá trị hàn gắn của tình yêu đồng loại. Buồn thay, nhân loại vô minh dường như vẫn đang từng ngày đánh mất dần thứ tình yêu thiêng liêng ấy. Trịnh Công Sơn buồn bã nhận ra "Nhân loại, mỗi ngày, đang cố bày biện những tiệm tạp hóa mới. Đóng thêm nhiều kệ hàng. Người ta bán đủ loại: đói kém, chết chóc, thù hận, nô lệ, vong thân...". Từ đó với trái tim không nguôi "yêu mọi người, cỏ cây, muôn loài", chàng nhạc sĩ tình nguyện dấn thân làm sứ giả nối vòng tay lớn, nối lại những yêu thương tưởng chừng đã rụng rơi đi nhiều trong trái tim người.

Vòng tay ấy khởi đầu từ người mẹ muôn vàn kính yêu và những người em ruột thịt thân thương trong gia đình, rồi vươn tới những bạn bè nhiều thế hệ, thuộc nhiều nghề nghiệp, sống ở nhiều vùng đất khác nhau. Họ hòa vào vòng tay chàng nhạc sĩ họ Trịnh một cách tự nguyện và đầy thiện chí cứ như đã thân nhau từ kiếp trước, nhóm nhạc do Trịnh Công Sơn lập ra cũng mang một cái tên thật gần gũi: Những Người Bạn.Tiếp theo thì đến lượt ai? Thử nghe chàng nhạc sĩ trần tình: "Tôi là đứa bé. Tôi là người bạn. Đôi khi tôi là người tình" (Tin vào niềm tuyệt vọng). Ra thế, Hoàng Phủ Ngọc Tường từng nhận định rằng, ngoài nhạc phản chiến, "Hầu hết thì giờ còn lại đã được Trịnh Công Sơn dành cho tình ca. Tình ca đã chiếm lĩnh gần như trọn vẹn sự nghiệp âm nhạc Trịnh Công Sơn (Tình ca Trịnh Công Sơn). Thế thì đối tượng tiếp theo trong vòng tay của Trịnh không ai khác mà chính là người tình. Nói cho cùng, một người tình lãng du không đi tìm người tình thì còn tìm ai.Trong tiếng réo rắt của cây đàn lyre, hãy dõi theo Trịnh Công Sơn đi đến với người tình.

Mở đầu thiên tình sử "Đóa hoa vô thường" ta đã bắt gặp chàng khăn gói đi tìm em, tìm rất chân thành và tha thiết: "Tìm trên non ngàn..., tìm đêm chưa từng, tìm ngày tinh khôi. Tìm lại trên sông những dấu hài..., tìm em xa gần", tìm tận "trong vô thường". Cũng chẳng cao sang gì, em ở đây chỉ "mình hạc xương mai" thôi, nhưng cũng như chàng Orpheus đi tìm nàng Eurydice tận địa ngục, Trịnh Công Sơn không hề ngã lòng: "Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh. Trăng tàn nguyệt tận, chưa từng tuyệt vọng đâu em". Kết quả của những nỗ lực không mệt mỏi thường rất ngọt ngào: "Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn", và đương nhiên câu chuyện tiếp theo phải là "tôi mời em về đêm gội mưa trong. Em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm" để "bốn mùa yêu nhau trong lẽ vô thường của trời đất".Đối diện với quá nhiều mất mát đau thương "người người yêu nhau đã mất nhau trong đời" (Còn có bao ngày), Trịnh Công Sơn luôn mang một nỗi thảng thốt thường trực về phận người để rồi khắc khoải mong "Bàn chân qua phố thấy người" (có một dòng sông đã qua đời", hay "Chờ từng sớm mai thấy lại mặt người" (Còn thấy mặt người). Ông khẩn thiết kêu gọi "Anh em trên khắp địa cầu hãy gần nhau" (Như tiếng thở dài) không ngoài mục đích để "dòng máu nối con tim đồng loại, dựng tình người trong ngày mới", thứ mà nhân loại đang rất cần để cứu chuộc thân phận, cứu chuộc thế giới.

Vòng tay lớn không chỉ kết nối giữa những con người, trái tim người Nghệ sĩ còn mang một tình yêu bao la với thiên nhiên cây cỏ: "Tôi yêu mọi người, cỏ cây muôn loài" (Tự tình khúc). Trịnh Công Sơn từng thổ lộ "Tôi vẫn còn ham mê học hỏi quanh mình và còn đủ hào hứng mở ra những cuộc đối thoại, độc thoại với cây cỏ thiên nhiên,...Tôi là người tình của thiên nhiên" (Phác thảo chân dung tôi). Trong rất nhiều bài hát của mình, Trịnh Công Sơn xem vạn vật như những người bạn, người tình thân thiết. Đối với Trịnh, "góc phố nào cũng thấy quê nhà..., màu hoa lá quen như mặt người" (Tình yêu tìm thấy). Vì thế ông hết lòng "tạ ơn hoa sáng thơm cho mẹ, tạ ơn chim chiều hót cho cha" (Có nghe đời nghiêng). Không chỉ đi tìm em, Trịnh còn đi "tìm hạt bụi bay trong cuộc đời" (Môi hồng đào), ông khuyên mọi người hãy yêu nhau không chỉ để cho những người tình có nơi nương náu bình an trong trái tim của nhau mà còn để "cho gạch đá có tin vui" (Hãy yêu nhau đi).Trong "Để bắt đầu một hồi ức", Trịnh Công Sơn viết: "Tôi yêu cuộc đời và cuộc đời cũng đã yêu tôi". Quả nhiên, không phụ lòng người, đến lượt mình thiên nhiên cây cỏ cũng dang tay bầu bạn với Trịnh, với em: "Đông sang khoác vai tôi những ngày vui" (Môi hồng đào), "Ngày mai em đi biển nhớ tên em gọi về..., ngày mai em đi đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ, sỏi đá trông em từng giờ" (Biển nhớ), "Bao đường phố em qua nắng lên đứng chờ, đường dìu chân em đi..., cây trái níu chân về" (Tuổi đời mênh mông)...

Thiền Phật giáo quan niệm rằng vạn vật đều có phật tính, là người tiếp xúc với giáo lí nhà Phật từ sớm Trịnh Công Sơn hẳn thấm nhuần điều này. Vì thế, không có gì lạ khi thế giới vạn vật trong nhạc Trịnh cũng xôn xao như con người, cũng khát khao "xin cho về trọ gần nhau" (Ở trọ). Trong vòng tay nghìn trùng ấy, ta thấy có rừng núi giang tay với biển, có đêm vui đợi ngày, có thành phố tìm đến thôn xa, có "Dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi" (Bốn mùa thay lá)... Dường như thế giới loài người và vạn vật trong nhạc Trịnh Công Sơn hòa quyện với nhau rất khó mà tách bạch. Hát Trịnh Công Sơn đôi khi ta chợt giật mình không biết đâu là cuộc tình giữa tôi với em, giữa tôi với vạn vật hay giữa vạn vật sỏi đá với nhau. Đây là hẹn hò giữa mưa với hoa: "Những giọt mưa, những nụ hoa hẹn hò gặp nhau trước sân nhà" (Bốn mùa thay lá); đây là cuộc tình rất khẽ giữa sương với phố: "Đêm bước về thật nhẹ, sương khoác mềm vai phố" (Hôm nay tôi nghe); còn đây là khắc khoải giữa thềm đá với mưa: "Thềm đá nằm thềm đá nghe mưa" (Có nghe đời nghiêng)...Thế đấy, ngày sau ngay cả "sỏi đá cũng cần có nhau" (Diễm xưa) thì không lẽ những con tim đồng loại trong thế giới loài người lại không thể hòa chung một dòng máu mà "lại gần, gần lại với nhau, ngồi gần nhau hơn" (Lại gần với nhau).

Thực ra, thế giới vốn dĩ là một thể thống nhất, làm gì có sự phân chia. Trái đất này chỉ như một hòn bi xanh trong vũ trụ bao la, ở đó vạn vật, chúng sinh "vô tình ta cùng chọn nơi này làm quê hương" (Như một hòn bi xanh). Chẳng biết tự khi nào, nhân loại đầy tham sân si bỗng nhiên phân chia thế giới ra làm trăm ngàn mảnh rồi xâu xé giành giật nhau gây ra bao cảnh tang thương, đầu rơi máu chảy.Theo cái nhìn của Phật giáo, vũ trụ là sự vận động và tương tác lẫn nhau của các hiện tượng tiếp nối vô thỉ vô chung, không có vật thể nào có thể tồn tại độc lập mà chúng nương tựa vào nhau tồn tại hài hoà nhau. Cùng một ý tưởng với Pháp duyên khởi của nhà Phật, nhà vật lí vĩ đại Stephen Hawking đã phát biểu trong tác phẩm “Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ” rằng: “Một con bướm vỗ cánh ở Tokyo có thể gây ra mưa ở công viên trung tâm ở New-york”. Trong Liên Hoa Kinh, các đại sư của Thiên Thai Tông cũng thường dạy rằng "toàn bộ vũ trụ nằm gọn trong đầu một hạt cải". Thế thì làm gì có sự phân biệt nào trong thế giới này, nói theo cách của Trịnh Công Sơn "Tôi là em và em cũng là tôi" (Tôi ơi đừng tuyệt vọng). Thế thì tìm em cũng chính là tìm tôi, tôi kết nối với vũ trụ cũng như tôi kết nối với tôi vậy.Hóa ra, trong cuộc tìm kiếm vĩ đại để "níu tay nghìn trùng", Trịnh Công Sơn đâu chỉ định "nối tròn một vòng Việt Nam". Đất nước, quê hương chỉ là khởi điểm để Trịnh Công Sơn giang rộng vòng tay kết nối cả càn khôn vũ trụ. Và tận cùng vũ trụ ấy, tại nơi chốn cội nguồn, vòng tay Trịnh Công Sơn bắt gặp chính mình. Cuối cùng tôi đã tìm thấy tôi để "nối liền một vòng tử sinh".

Vòng tử sinh ấy đã kết thúc trên một phận người. Đã mười bốn năm Trịnh Công Sơn giã từ cõi tạm mà về với cõi thiên thu linh thiêng để lại một gia tài đồ sộ những ca khúc thấm đẫm yêu thương vẫn đang từng ngày bền bỉ chảy tuôn như "dòng máu nối con tim đồng loại". Tự nhận rằng "Tôi chỉ là một loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau" (Tin vào niềm tuyệt vọng) nên có một lần, trong Dã tràng ca, ông từng băn khoăn rằng tiếng hót của mình chỉ như là công việc của dã tràng xe cát: "Dã tràng xe cát hoài công...Công dã tràng muôn đời vỡ tan..., trùng dương ơi sao nỡ bỏ quên". Không gì an ủi ông cho bằng chính lời bạn thân của ông, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường: "Anh Trịnh Công Sơn, anh hãy yên tâm nghỉ giấc ngàn thu, giữa những tài năng ngoại hạng đã tích lũy nên di sản văn hóa của nhân loại. Mỗi người nghe nhạc anh đều xây cất một mộ phần cao sang dành cho anh trong tâm tưởng của họ, để từ đó nghe tên anh từ thiên thu vang dội trên nền cẩm thạch".

Và như thế, Trịnh Công Sơn đã nối linh thiêng vào đời.

Nguyễn Quốc Túy 

http://motthegioi.vn/van-hoa-giai-tri/ca-nhac/trinh-cong-son-noi-linh-thieng-vao-doi-167435.html

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

MƯỜI NĂM TẮM GỘI...




1. 

Tắm à?
Ừ thì tắm, sợ chóa giề, lên đường đi đánh giặc tàu tớ cũng còn chả sợ nữa là tắm. Vợ chồng mí nhau thì quan tâm nhau cũng được, cơ dưng mà đến mức giục nhau đi tắm là tớ cực lực phản đối đấy nhá, vi phạm nhân quyền quá đáng thể.
“Mười lăm tuổi hãy còn con nít
Đến năm mươi cút kít đã về già
Thế nên vòng thưởng nguyệt chơi hoa
Ngồi ngẫm lại ba mươi năm đã kiệt

Thế mà còn
Đi học đi hiếc
Đi thi đi thiếc
Làm quan làm kiếc…”

Ấy là mấy câu thơ trào lộng của Nguyễn Công Trứ than thở về cái sự nhiêu khê của đời người, mềnh là mềnh còn phải thêm câu này “Đi tắm đi tiếc”. Đời người vốn ngắn chẳng tày gang, thế mà bao nhiêu là thứ hằm bà lằng vô bổ làm mất hết cả thời gian sống, thời gian vui chơi thưởng thức hoa nguyệt thanh tao ở đời. Không biết từ khi nào, tắm gội bỗng nhiên trở nên không thể thiếu với con người, với ai không biết, riêng với mềnh thì hoạt động này chả có gì hay ho, ngoài việc nó chiếm một khoảng thời gian kha khá của đời người.

Thời con nít, tắm đồng nghĩa với việc nhảy ùm xuống sông Gianh bơi lội nghịch nước, chán chê thì lên bờ. Lên rồi đi dọc sông thấy có đám nào hay hay lại nhảy xuống nước. Cứ thế, có ngày phải cả chục lần “tắm” như thế, bợt hết cả người, sạch sẽ đến thế là cùng, hi hi. Tất nhiên cũng có ngày mãi chơi tới tối, mồ hôi mồ kê nhễ nhại nhưng quên cả tắm vẫn leo lên giường ngủ như thường. Nhớ có lần đêm chui bụi lủi bờ chơi trò đánh trận giả, mềnh lãnh trọn một bãi cứt chó rồi cũng quên luôn. Nữa đêm bị mạ phát hiện ra mùi thum thủm bèn dựng cổ mềnh dậy nện một trận, bắt tắm rửa thay đồ mới cho ngủ tiếp.

Đó là chuyện của mùa hè, còn vào mùa đông thì tắm là một động từ xa lạ với bọn con nít nhà quê dưới cái rét cắt da cắt thịt của quê nghèo miền Trung. Có khi trốn tránh qua được mùa đông nhưng cũng có khi bị mạ nấu nước rồi cưỡng bức tắm, đó quả là những lần cực hình không kém bị…tra tấn. Nhà quê thời ấy làm gì có nhà tắm, đến cái nhà ở còn hở toang hoác gió lùa nữa là. Tuy nhiên cũng có một lần mềnh tắm gội trong tự giác cao độ. Ấy là vào dịp gần tết khi mạ ra điều kiện không tắm không cho mặc đồ mới. Ba mươi tết mình bưng nồi nước nóng, xách cái đòn ra ngồi giữa sân nghiến răng thực hiện cái nghi lễ thổ tả ngay trước cái nhìn mãn nguyện của mạ, bụng thầm nghĩ thà làm cây đuốc sống như bạn Lê Văn Tám lao vào đốt kho xăng giặc có khi còn sướng hơn, hi hi…

Thử gõ cụm từ “Tắm là cái gì”, trong 0,44 giây anh Gu gồ cho tới 834000 kết quả. Ua chầu, té ra tha nhân cũng còn lúng túng chuyện tắm táp lắm. Tiện thể, mở luôn từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1992 trang 879 định nghĩa động từ tắm thế này: “Giội nước lên người hoặc ngâm mình trong nước cho sạch sẽ, mát mẻ hoặc để chữa bệnh” chấm hết. Chời chời! Quả là ngớ ngẩn, hi hi…

Mà thôi, mệt dồi, không viết nữa, tớ đi tắm phát cho sạch sẽ, mát mẻ cái đã he he…

2.




Mềnh trải qua trọn đời sinh viên trong thời bao cấp. Khỏi phải nói làm anh sinh viên “ăn như sư ở như phạm” thời ấy khổ cực đến như thế nào. Nhưng thôi, kể lể dài dòng làm gì, tập trung vào chuyện tắm gội cái đã.
 
Đại học Sư phạm Vinh có một cái bể tắm ngay sát quốc lộ dùng cho sinh viên nam cư xá. Cũng có mấy cái phòng được gọi là phòng tắm nhưng chả cái nào còn cửa. Ban đêm đói bụng, bọn sinh viên cư xá bẻ hết cửa làm củi nấu ăn rồi, thành thử vào “phòng tắm” cũng như ở ngoài trời.  Đại khái là chiều chiều khách đi trên quốc lộ thường chứng kiến cảnh một lũ sinh viên chúng tôi tồng ngồng đứng bu quanh bể nước thi nhau múc nước dội, lại còn chuyện trò cười hát rất mực náo nhiệt, hi hi…

Còn xà phòng tắm à? Chuyện xa xỉ. Hàng tháng sinh viên bọn mềnh được bao cấp một cục xà phòng 72% chủ yếu để giặt, không ai tắm bằng cái thứ xà phòng toàn xút ấy. Cũng có vài đứa đào hoa dính vòng bồ bịch gái gú nghiến răng mua cục xà phòng thơm bé bằng cái kẹo cất tận đáy va li, nhưng cũng chỉ dùng khi có hẹn hò và cũng chỉ xoa vào vài khu vực cần thiết, he he… 

Thời sinh viên ở Huế mình có đọc bác Nguyễn Trọng Tạo, hát bác í còn sớm hơn, khi còn là học sinh cấp 3 với bài “Làng Quan họ quê tôi”. Gần đây thì mình rất mê “Khúc hát sông quê”, bài hát bác Tạo phổ thơ Lê Huy Mậu, quá hay, quá tài.
Mà nói chung thì khen cũng bằng thừa, bác í vừa là nhà thơ, nhà báo, họa sĩ, nhạc sĩ, “nhà” nào cũng giỏi. Nhưng, nói thật, mềnh ngưỡng mộ  bác Tạo nhất là thành tích…lười tắm. Cái tên Nguyễn Trọng Tạo trở nên thật khó quên đối với mềnh khi đọc bọ Lập kể về đại ca “Tạo Bẩn”. Biết là nhà văn nhà veo thì hay nói quá, nhưng mềnh dứt khoát tin vào những gì bọ kể. Có sao đâu, người ta sẵn sàng tin vài điều đôi khi không thật lắm về người mình yêu quý. Ai nỡ lòng nào bắt con chiên đừng tin Chúa Jesus sống lại, hi hi…

Nói có sách mách có chứng, thôi thì cứ trích nguyên một đoạn về đại ca Nguyễn Trọng Tạo hỗn danh Tạo Bẩn trong tập “Bạn văn” của bọ Lập.
Anh Quán thấy cái áo anh Tạo đã sẫm màu thời gian, nói tắm đi cái mi. Anh Tạo nằm dài  ra sàn, nói để em nghĩ xem tắm có phải thuộc phàm trù văn hoá không đã.
Một hôm vừa sáng bảnh mắt anh Tạo đã đến nhà mình, nằm dài ra sàn kêu chán. Mình hỏi sao. Anh nói mình đi nhậu suốt ngày, nghĩ thương vợ, tối qua ở nhà, quyết định rửa bộ đồ nghề hầu vợ phát thì nó lại hành kinh. Rửa ráy thế có phí không.
Mình kể cho chị Kim Quí (vợ đạo diễn Xuân Đàm) nghe. Chị dài môi,  nói chà,  ông Tạo mà rửa bộ đồ nghề thì trời sập cái đoàng. Tao mà yêu ông Tạo thì tao phải lấy đũa gắp chim ông chứ chẳng dám cầm.
Mình có viết chuyện này ở Say 4, cô X. cười ngất. Hôm anh Tạo vào Vũng Tàu, nhắn tin cho cô X.: “Anh đang một mình ở bờ biển, buồn lắm, ra với anh đi.” Cô X. reply ngay lập tức: “Dạ dạ…Em ra liền nè. Em có phải mang theo đũa không anh?”.

 Chuyện lười tắm của bác Tạo còn hay hơn cả…bài thơ hay nhất, ngưỡng mộ bác í quá cơ. Mềnh đưa chuyện cho bà xã đọc hòng để mụ í hiểu ra rằng so mí bác Tạo, “thành tích” của mềnh chỉ đáng liệt vào hạng…muỗi. Ngồi kiểm kê lại các cuộc hẹn hò với “đối tác” của mềnh kể từ khi biết đu đưa với giống cái đến nay, chưa thấy ả nào bới theo đũa cả. May thế, he he…

3.



“Anh không muốn mất sông
Sông đã quành hướng khác
Anh không muốn mất em
Em đã về xa lắc

Có bầu trời phụ bạc
Đã thay rồi màu mây
Có nỗi buồn ngày trước
Đã reo cười đâu đây

Em dòng nước đang đầy
Đã vơi ngày nắng hạn
Anh con thuyền mắc cạn
Trong lưới tình mắt em.”

Ấy là bài thơ “Anh không muốn mất em” của bác Nguyễn Trọng Tạo. Thì ra bác í lười tắm cũng có lí do đấy chứ. Dù rất muốn “úp mặt vào sông quê” nhưng “Sông đã quành hướng khác”; ngay cả “Em dòng nước đang đầy” rồi cũng “Đã vơi ngày nắng hạn”, thế thì lấy đâu ra nước mà tắm cơ chứ. Kết quả là bác í mắc cạn, nhưng là mắc cạn khôn thế, tận “Trong lưới tình mắt em” hẳn hoi nhá. Nói thật, lười tắm mà làm thơ hay được thế thì mềnh cũng xin xung phong lười cho đến tận kiếp sau, hi hi…

Mà cũng lạ, chẳng riêng gì bác Tạo, bao nhiêu bậc tài hoa khác ở đời thậm chí còn là sư phụ bác Tạo về cái khoản lười cọ rửa. Lại trích bọ Lập: “Thực ra anh Tạo lười tắm không bằng cái móng tay anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) và anh Sơn (Trịnh Công Sơn), nói chung mấy ông hay rượu đều lười tắm cả…Anh Quán vẫn hay trêu anh Tạo, anh Sơn, anh Tường, nói ai cũng như mấy ông này thì khỏi lo sông Hương hết nước. Anh có câu trêu anh Tường: Nếu không tát cạn biển đông/ Thì cha Hoàng Phủ đừng hòng tắm cho. Lại có câu trêu anh Sơn: Bao giờ sông cạn đá mòn/ Công Sơn mới rửa hai hòn cho em”.

Mềnh không đồng ý lắm khi bọ Lập tổng kết “mấy ông hay rượu đều lười tắm cả”, có lẽ nên thêm vào “và rất tài hoa” nữa mới được. Phải nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Trịnh Công Sơn là hai thần tượng của mềnh về văn chương và âm nhạc từ thuở sinh viên. Thi thoảng mềnh lại phải chìm đắm vào thế giới bút kí bác Tường để trải nghiệm sự uyên bác hào hoa của văn chương; ngâm nga nhạc Trịnh mà tìm sự bình an và thấm thía rằng “chỉ có tình yêu mới cứu chuộc được thân phận trên cây thập giá đời”.

Cơ dưng mà, khổ chưa, các thần tượng của tôi ơi, sao quý vị lười tắm thế, sao quý vị đáng yêu giống…mềnh thế, he he. Có sự liên quan nào giữa lười tắm và tài hoa không nhỉ, không chừng phải làm cái luận án tiến sĩ về đề tài này mới được, hi hi…

Mềnh có đọc trong đâu đấy về một tôn giáo ở Ấn Độ, hình như Jaina giáo thì phải. Họ thờ thần lửa nên rất ít khi tiếp xúc với nước. Ba tháng các tín đồ Jaina giáo mới tắm một lần và mỗi lần cũng chỉ dùng một bình nước nhỏ. Không hiểu ở xứ sở Cà ri nắng nóng như nung, họ sẽ xoay xở thế nào sau mỗi ba tháng với chừng ấy nước. Ngưỡng mộ các đại ca quá đi mất, có khi phải khăn gói sang Tây trúc gia nhập Jaina giáo thôi, hi hi...

Chưa hết, Mahavira, nhà sáng lập Jaina giáo cũng có một cuộc đời kì lạ. Xuất thân là hoàng tử của bộ lạc Lichavi, vương quốc Kosala sống cùng thời với Thích Ca Mâu Ni. Năm 19 tuổi, ông lập gia đình và có một con gái. Tới năm 30 tuổi, Ngài rời gia đình, từ bỏ vợ con, dấn thân vào cuộc sống tu hành. Suốt 12 năm trời, Mahavira sống như một nhà tu khổ hạnh, khắc kỷ. Thời gian đầu, Ngài chỉ khoác trên mình một chiếc áo khoác duy nhất và không hề thay đổi. Sau 13 tháng, Ngài bỏ luôn chiếc áo và ở trần truồng cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Danh hiệu Mahavira có nghĩa là Ðại Anh hùng, một biệt danh dùng để tôn vinh cá biệt vị tổ sư này. Kết thúc 30 năm rao giảng, xây dựng và phát triển Jaina giáo, Mahavira từ trần sau một cuộc tuyệt thực cho tới chết tại Para, nơi gần Patna ngày nay, thọ 72 tuổi. Và nơi ấy từ đó trở thành thánh địa hành hương của mọi tín đồ Jaina giáo. Cho tới thời điểm nhập diệt, Ðức Mahavira có rất đông đệ tử, khoảng 50.000 người trong đó ba phần tư là phụ nữ.

Nể chưa, ai ngờ một vị tu hành gần như không dan díu với nước, thậm chí khỏa thân, lại có đông đệ tử đến thế, mà chủ yếu là phe tóc dài nữa mới tài. Mềnh chỉ cần có số đệ tử bằng một phần trăm ông Ðại Anh hùng thôi là đủ no cơm ấm cật, cơm no bò cưỡi quanh năm dồi, he he…

Hóa ra giá trị con người không chỉ phụ thuộc vào sự sạch sẽ thân xác. Có một thứ sạch sẽ còn cao quý hơn nhiều, ấy là “sạch sẽ tâm hồn”. Làm sạch thân xác thì chỉ cần mười phút, nhưng để có được tâm trong trí sáng như trăng rằm thì phải mất mười năm tắm gội. 

Mà có khi phải mất hết cả đời cũng chưa chắc làm được ấy chứ, bác Trịnh nhỉ.

Dalat, 2-2015

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

NÚI LẶNG

                                                                                
                                                                                                                  
     Đoàn gồm hơn tám mươi người từ tuổi học trò trung học đến cụ ông 74 khởi hành lúc 5 giờ sáng dưới chân núi Bạch Mã. Gậy cầm tay, ba lô trên vai cùng lích kích những nồi niêu soong chảo, nét mặt háo hức tươi vui, thứ tâm trạng chỉ có ở những người xác định rõ mục đích và từ lâu chờ đợi chuyến đi của mình. Đoàn người bước hàng hai hướng về đỉnh núi xa mờ tít tắp trong cái oi nồng của mùa hạ Huế. Háo hức náo nhiệt là thế nhưng mọi người hành quân trong trật tự, được tổ chức chặt chẽ cứ như một đoàn quân chuyên nghiệp. Mà có khi còn đáng ca ngợi hơn cả một đoàn quân chuyên nghiệp, vì họ bao gồm đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi ngành nghề chứ làm gì có được sự thống nhất như một đoàn chiến binh. Đủ cả, học sinh, nhà kinh doanh, giáo viên, công chức nhà nước..., họ cũng đến từ khắp mọi nơi, từ đồng bằng miền Trung cho đến Tây Nguyên heo hút.

      Không ai khác, "cụ ông" là võ sư Nguyễn Văn Dũng, sư phụ của mình, còn đoàn quân đa phương trời đa tính cách kia chính là  "đoàn võ sinh Karatedo của Nghĩa Dũng Đường trong cuộc hành hương thường kì của võ đường lên Bạch Mã với mục đích hàm dưỡng nhân cách và lí tưởng hành thế" (Hoàng Phủ Ngọc Tường).

      Sau nhiều lần lỗi hẹn, lần này mình có mặt trong cuộc "hành hương" cùng thầy như một sự sắp đặt không thể khác. Chuẩn bị cho cuộc chinh phục gần hai mươi cây số leo dốc, nghe lời thầy mình đã tranh thủ luyện tập trước, kể cả tập sự leo núi Lang Biang. Tưởng chừng đã kỹ lưỡng lắm, mình không thể ngờ được chuyến đi lại "kinh khủng" đến thế, nhiều lúc mệt muốn đứt hơi, chỉ muốn nằm lăn ra bên vệ đường. Người ta bảo hạnh phúc chỉ thực sự ngọt ngào sau khi đã nếm trải những nhọc nhằn vất vả ở đời, nếu thế thì dứt khoát những hạnh phúc mà mình được trải qua trong chuyến đi phải ngọt ngào lắm lắm.

       Phàm là người thầy, dù là thầy văn, thầy võ hay thầy tu, mục đích chính hẳn là giáo dục, rèn luyện, là truyền trao cho con người mà nhất thế hệ trẻ một nhân cách, một bản lĩnh sống để họ vững vàng bước vào đời. Về phương diện này thì thầy mình, nhà giáo, võ sư Nguyễn Văn Dũng đã đạt được mục đích một cách mỹ mãn. Sẽ là thừa và không cần thiết nếu mình kể ra đây những thành quả giáo dục của thầy. Đã có quá nhiều những bài viết, phóng sự truyền hình, những bài phỏng vấn từ cấp địa phương tới trung ương về những dấu ấn giáo dục mà thầy đã để lại. Sống động hơn, có lẽ chính những đứa học trò, đệ tử của thầy khắp bốn phương trời, cả trong và ngoài nước đang từng ngày hoàn thiện mình theo mục đích, tôn chỉ mà thầy truyền dạy là những bằng chứng thuyết phục nhất. Người ta bảo cha nào con nấy, thầy nào trò nấy quả là không sai.

     Nếu ai đó còn có chút nghi ngại thì đơn giản nhất là xin mời bạn hãy cùng thầy trò Nghĩa Dũng Đường chúng tôi tham gia một chuyến đi Bạch Mã. Trăm nghe không bằng một thấy, sẽ không có lời nói nào thuyết phục cho bằng những gì bạn được chứng kiến. Cả một đoàn người từ mọi miền đất nước với đủ mọi lứa tuổi, trĩu nặng ba lô trên lưng, nhễ nhại mồ hôi trong cái nóng oi nồng mùa hè xứ Huế, nhưng vẫn mải miết hướng về đỉnh núi cao một cách vui tươi, không một lời than vãn. Thật lạ, phần lớn mọi người trong đoàn lần đầu biết nhau nhưng họ lập tức trở nên thân thiết cứ như gặp nhau lâu lắm rồi. Trên đường, bạn có thể thấy một môn sinh còn khỏe mang ba lô dùm cho một bạn yếu hơn; một sư huynh đang giúp môn sinh băng bó chân vì những vết trầy xước do đá nhọn, gai rừng; bạn cũng có thể gặp một môn sinh đang lặng lẽ nhặt những hòn đá bị rơi ra giữa đường vì có thể gây nguy hiểm cho xe lên xuống núi. Điều đáng nói là họ làm tất cả những hành động ấy không một chút nhăn mặt nhíu mày hay ồn ào miễn cưỡng mà hoàn toàn diễn ra trong tự giác, yêu thương và tĩnh lặng.

      Gần ba ngày hai đêm trên núi, mọi nhiệm vụ, mọi căn dặn của thầy được mọi người thực hiện một cách tuyệt đối nghiêm túc, nhanh nhẹn, gọn gàng và rất sạch sẽ. Có lẽ bạn sẽ khó tin rằng, trong suốt thời gian ấy không một nhánh cây rừng nào bị chặt bẻ, mọi công cụ dựng trại đều được mang lên từ nhà; có khó tin không khi biết bao nhiêu hoạt động diễn ra cho gần một trăm con người trong ngần ấy thời gian nhưng trong cả cánh rừng Bạch Mã mênh mông không hề có một cọng rác thải ra dù chỉ là một mảnh giấy vỏ kẹo, tất cả đều được cho vào bao để ngày về mang ra khỏi rừng. Vì thế, bạn sẽ không ngạc nhiên khi ban quản lí rừng quốc gia Bạch Mã đón thầy, đón đoàn võ sinh Nghĩa Dũng Đường như đón người thân trở về. Đơn giản là họ không phải lo môi trường bị ảnh hưởng, họ không phải dọn rác rưởi chai lọ thải ra như nhiều đoàn du khách khác. Thậm chí họ còn dùng hình ảnh của đoàn võ sinh Nghĩa Dũng hành hương Bạch Mã hàng năm như là tấm gương để giáo dục cho du khách. Mình từng làm công tác giáo dục nhiều năm, phải nói rằng có được những học trò như thế là mơ ước của nhiều thầy cô giáo tâm huyết với nghề. Chợt nghĩ về nền giáo dục nước nhà, nói chi cho cao siêu, chỉ cần đào tạo cho đất nước những thế hệ thanh niên như thế này thì chả mấy chốc mà nước ta sánh vai được với các cường quốc năm châu.

       Bí quyết nào để thầy thành công được như thế? Có lẽ chẳng phải vì thầy vừa là thầy văn vừa là thầy võ với thật nhiều những thế hệ học trò vừa say mê tài văn vừa ngưỡng mộ tài võ của thầy. Điều cốt yếu làm nên những thành công của thầy theo mình không gì khác đó chính là tấm lòng, là khát khao trui rèn một lớp trẻ có hoài bão, có bản lĩnh và lòng nhân hậu để giúp người, giúp đời. Đi học võ thì đối tượng phải là võ thuật, hẳn nhiên rồi, ban đầu ai mà chả thế. Nhưng sau một thời gian tập luyện, điều làm chúng tôi tin tưởng và gắn bó với thầy lại là từ văn, từ tấm lòng của thầy với đời. Cái mục đích ban đầu dường như là thô thiển, nhưng cùng với thời gian và nghĩa tình thầy trò huynh đệ, mọi thứ có được bổng trở nên lung linh sống động lạ thường. Trong "Tiếng hát con tàu", nhà thơ Chế Lan Viên đã nhận ra "Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn". Cũng thế, chúng tôi đến với Nghĩa Dũng Đường đến với Thầy lúc đầu chỉ là vì những đòn thế quyền cước, dần dà võ đường trở nên là nơi thân thương như máu thịt để sau này dù có chia xa trăm ngả vì mưu sinh, chúng tôi vẫn hằng ngưỡng vọng về nơi ấy với cả tâm hồn. Đoàn kết yêu thương từ lâu đã trở thành một truyền thống đẹp của Võ đường Nghĩa Dũng Karate-Do, ở đó, chúng tôi tìm thấy không khí ấm áp, tình nghĩa của một mái gia đình mà người thầy cũng là người cha (sư phụ), anh em (huynh đệ) cũng là tay chân ruột thịt.  Một môn sinh huyền đai giã từ Võ đường đi làm anh lính cụ Hồ tận bên nước bạn Lào, ba năm sau về Huế chưa kịp ghé nhà đã mang cả ba lô đến Võ đường chỉ để chào Thầy và xin thắp một nén nhang lên bàn thờ tổ. Thế đấy, khi nghĩa tình được khơi dậy, nó trở thành nhu cầu sống của con người. Hãy thử hình dung mà xem, nếu trên thế giới này nhân loại đều tâm niệm rằng "Người yêu người sống để yêu nhau" thì "Có gì đẹp trên đời hơn thế", trái đất này sẽ đẹp đẽ lung linh biết bao khi vắng hẳn những hận thù ganh ghét, chỉ còn thương yêu ngự trị.

***
[★]
BM2

      Đêm đầu tiên trên đỉnh Bạch Mã, lạnh và gió rét căm căm. Thầy trò chúng tôi quây quần ra mảnh sân của một biệt thự bỏ hoang thành vòng tròn đốt lửa trại. Ở đó bằng ánh sáng bập bùng của ngọn lửa, bằng cả ánh sáng của điện thoại, chúng tôi say sưa hát về nghĩa tình đồng đội, về khí thế hào hùng của dân tộc một thời. Những là "Nối vòng tay lớn", "Đồng Đội", "Đêm Trường Sơn nhớ Bác"... vang lên từ lồng ngực của chúng tôi bằng ngọn lửa tình yêu và hơi ấm của tình huynh đệ. Chứng kiến cảnh gần trăm thầy trò đủ mọi lứa tuổi quần tụ trên một ngọn núi cao trong một đêm giá lạnh cùng hát vang bài hát nghĩa tình ấy thật là cảm động. Đó hẳn là những phút giây thăng hoa hiếm hoi của đời sống hãy còn nhiều ô trọc này.

     Theo lời giới thiệu của thầy, mình tìm gặp Trần Thị Đông, cô sinh viên năm nhất trường Cao đẳng Công nghiệp Huế. Đông là một vị khách của đoàn do mới chỉ mang đai nâu, chưa đủ "tiêu chuẩn" lên núi nhưng do năn nỉ quá nên thầy cho đi theo đoàn như một vị khách "đặc biệt". Hỏi em về động cơ đến với Karatedo, em tâm sự rằng lúc đầu chỉ định đi học một thời gian cho khỏe, nhưng rồi càng học lại càng say mê, không dứt ra được. Điều em thích nhất là tinh thần đồng đội, là nghĩa tình thầy trò huynh đệ rất mực chân tình. Còn tân huyền đai Phạm Thị Thiên An, cô sinh viên Đại học Kinh tế mảnh mai dễ thương rất Huế cũng chẳng nghĩ ngợi lâu, em đáp ngay rằng vì ở Võ đường em gặp được người thầy đúng nghĩa, luôn làm gương cho học trò chứ không chỉ lời nói, ở đó em được học những bài học làm người, ở đó em cảm thấy mạnh mẽ, tự tin và yêu thương mọi người, yêu thương cuộc đời hơn. Mình tranh thủ "ra đòn" thêm, thế em không sợ bạn trai chê con gái học võ à. Rất ngắn, nhưng tôi hiểu câu trả lời chắc nịch của em là không đùa tí nào "Nếu em có bạn trai (ai mà biết được!) thì bạn ấy phải chấp nhận điều đó, nếu không thì...bái bai". Em cười giòn tan, đôi mắt tinh nghịch phản chiếu ánh sáng của ngọn lửa nhảy múa lung linh.

    Thật lạ, chả ai đề cập gì đến công phu võ thuật của thầy với đòn nọ thế kia, với những bài huấn luyện kỹ năng thi đấu để giành huy chương như thế nào. Cho hay, bất cứ môi trường giáo dục nào và ở bất cứ thời nào cũng cần một nhân cách sáng ngời của người thầy để làm gương cho học trò. Thậm chí không cần thầy phải rao giảng nhiều, chính bản thân thầy là một bài học thuyết phục nhất cho trò. Đến đây mình chợt nhớ, trong chuyến hành hương vừa rồi, cả chuyến đi lên và đi xuống, "cụ ông" già nhất đoàn luôn là người đến đích đầu tiên.

     Nhớ có lần thầy mình bảo, một trong những cái thú ở Bạch Mã là đêm ngắm sao trời, mình lặng lẽ rời khu vực lửa trại đi vòng xuống con đường rừng. Cảnh trời đêm trên đỉnh Bạch Mã thật tuyệt, có thể cảm giác được làn khí rất trong lành và tinh khiết, bầu trời như gần hơn với cơ man là các vì sao to nhỏ, có cảm giác như trên đầu là một tấm màn nhung gắn vô số những viên kim cương lấp lánh. Xa dần ánh lửa trại, tiếng hát của huynh đệ mình cũng chỉ còn nghe thoang thoảng. Một mình giữa rừng đêm thâm nghiêm u tịch thốt nhiên mình cảm thấy một chút rúng động, cảm giác như khi ta đang bước vào một ngôi đền linh thiêng vì một lời nguyện cầu trọng đại nào đó. Ở những khoảnh khắc như thế, tâm thức ta thường tập trung cao độ và những tạp niệm đời thường không còn hiện diện, nhường chổ cho những suy tư tử tế thường xuất hiện không nhiều lần trong đời.

      Ngày đến với Võ đường Nghĩa Dũng Karatedo chúng tôi chỉ là những đứa trẻ con, trẻ con cả tuổi đời lẫn nhận thức về võ Đạo. Võ nghiệp mở đầu bằng chiếc đai trắng, tinh khôi hồn nhiên như những cô cậu học trò đến lớp bắt đầu với những chữ cái đầu tiên trong đời. Khổ công luyện tập, đổ thật nhiều mồ hôi, thậm chí đổ cả máu, cùng với sự hướng dẫn tận tâm của thầy, màu đai đậm dần, xanh, nâu...và cuối cùng là màu đen. Khó nói hết niềm vui sướng tự hào của chúng tôi khi được thắt chiếc đai đen Karatedo, niềm mơ ước của bất cứ ai khi mới nhập môn. Điều đáng nói là cái đậm dần của màu đai song hành với cái "đậm" dần trong nhận thức võ Đạo. Chúng tôi hiểu ra rằng luyện tập Karatedo chỉ là con đường để rèn luyện và hoàn thiện bản thân mình, cũng như phật tử dùng việc gõ mõ tụng kinh mà tu thân vậy.

     Thầy mình bảo, huyền đai chưa phải là mục đích cuối cùng, nó mới chỉ là bắt đầu của con đường đến với Đạo, đến với mục đích tối thượng là rèn luyện mình trở thành một Karateka đúng nghĩa: Thân dẻo dai cường kiện, Tâm tĩnh lặng vô ưu, Trí sáng ngời nhật nguyệt.  Chúng tôi lại lao vào tập luyện cho các kì thi nâng đẳng. Chiếc đai đen lại dần dần được điểm ngang bằng những vạch trắng. Ra thế, chúng tôi đã tốn nhiều công phu để mang được đai đen, nay thì ngược lại, màu đen đang dần nhường chổ cho màu trắng, trắng của những vạch màu và của cả thời gian in dấu. Quá trình luyện rèn tu tập của con người hình như cũng đi theo một vòng tròn, chúng tôi đang hướng về vị trí xuất phát với những phẩm chất khác hẳn lúc mới nhập môn, vững vàng hơn, tĩnh lặng hơn. Những chiêu thức, đòn thế dường như đã được "quên" đi, không dám nói là đã đạt đến cảnh giới thượng thừa của các bậc sư phụ ngày xưa "vô chiêu thắng hữu chiêu", nhưng chắc chắn là chúng tôi chiêm nghiệm và cảm nhận về Võ Đạo, về con đường hoàn thiện mình rõ ràng hơn. 
 
    
       Cũng như thầy, mình vừa là thầy văn vừa là thầy võ, ban ngày lên bục giảng bận bịu với học sinh để chiều tối lại khoác kimono ra sân thao luyện cùng đệ tử. Cùng là mục đích giáo dục nhưng có một sự khác biệt căn bản giữa quan hệ thầy giáo-học sinh và sư phụ-đệ tử. Nhà trường là nơi thể hiện những thành tựu của khoa học với các môn học từ đơn giản đến phức tạp; trong khi võ thuật, võ đạo với những hệ thống triết lí, đạo đức của nó thì giống với một tôn giáo hơn. Trong thế giới của khoa học mối quan hệ thầy giáo/ học sinh tồn tại, bởi vì khoa học có thể được dạy. Nhưng những tinh hoa võ đạo nói riêng và tôn giáo nói chung không thể được dạy, nó chỉ có thể được truyền trao theo một cách riêng.

       Có tri thức mà thầy giáo truyền cho học trò, như vẫn được làm trong các nhà trường. Chắc chắn tri thức đó là sự chuyển trao từ lời nói, nhưng tri thức như vậy sẽ là nông cạn. Cái có thể được trao qua lời sẽ không sâu sắc hơn bản thân lời. Nhưng có những tri thức không thể chuyển trao được bằng lời. May thay, cái không thể nào được trao một cách trực tiếp thì lại có thể được truyền trao một cách im lặng, điều không thể giao tiếp bằng lời thì có thể giao tiếp bằng trái tim. Chúng tôi, những đệ tử của Nghĩa Dũng Đường hiểu thầy của mình đằng sau những gì thầy nói, qua những việc thầy làm. Vì thế chúng tôi không chỉ tập trung để nghe thầy nói mà thực sự là "sống" cùng thầy. Học sinh chỉ cần tập trung, đệ tử thì lại cần thiền. Tập trung nghĩa là người đó phải nghe đúng điều đang được nói. Thiền nghĩa là phải hiện diện đúng; không chỉ nghe đúng.

        Về khía cạnh này ai đó đã nói thật có lí rằng, mối quan hệ sư phụ-đệ tử như là chuyện tình, một câu chuyện tình không kém phần vĩ đại. Hình như những đôi trái gái thực sự yêu nhau, hiểu nhau cũng giao tiếp bằng trái tim chứ không phải thật nhiều lời. Hãy nghe thi sĩ Xuân Diệu kể về một lần chở người yêu trên xe đạp "Ước được ngàn năm bên giọng ấy/Đèo em đi tận cuối không gian/ Và khi không nói em im lặng/ Anh vẫn nghe hay tựa tiếng đàn"; một lần đưa tiễn "Anh nhớ mãi một bến xe/Đến đó đôi ta từ biết/ Em yên lặng anh lắng nghe/Mắt em nhìn ngàn vạn tơ xe..." ; một lần hiểu người yêu đến như thế này "Chuyện trước em chưa kể một lời/Mà anh đã hiểu tận sâu khơi/Vai anh khi để đầu em tựa/Cân cả buồn vui của một đời...".
***
 

       Trời càng về khuya càng lạnh, mình quay trở về căn biệt thự bỏ hoang, mọi người đã ngừng sinh hoạt và tự tìm cho mình một nơi chợp mắt lấy sức cho ngày mai. Mình cũng leo lên võng ngã lưng, chả thể nào ngủ được. Mình nằm nhìn rừng cây cổ thụ lấp loáng dưới ánh sao nhạt nhòa ẩn hiện trông như những gã khổng lồ kì quái, lắng nghe cái yên tĩnh rất động của núi rừng. Ngay cả gió cũng không còn vung vít như hồi đầu đêm, chỉ còn nghe tiếng xào xạc của lá, tiếng của muôn loại côn trùng, cả tiếng của một con chim nào đi ăn đêm vọng về từ một nơi xa ngái nghe thật buồn. Trong cái thâm nghiêm mênh mông của đêm rừng, trong vô vàn những âm thanh lạ lùng cứ như có cả ngàn vạn sinh linh đang cùng tấu lên khúc nhạc rừng liêu trai ấy, mình chợt cảm nhận được sức mạnh vô biên của núi, của vũ trụ bao la, ở đó nhân loại đáng thương mới nhỏ bé và mong manh làm sao.

      Sáng hôm sau, kết thúc buổi lễ phong đai cho các tân huyền đai trên đỉnh Vọng Hải Đài, chúng tôi men theo vách núi hành quân về dựng trại trên đỉnh thác Đỗ Quyên, ngọn thác hùng vĩ cao gần 300 m quanh năm tung nước trắng xóa xuống các khe suối.  Nếu đến Bạch Mã vào mùa trăm hoa đua nở, cả dòng suối như đắm mình trong màu đỏ thắm của hoa đỗ quyên, bởi vậy thác có tên là Đỗ Quyên.

     Theo thông báo của Thầy, tất cả môn sinh mặc võ phục xuống chân thác ngắm cảnh và chụp ảnh lưu niệm. Nhìn cái chân băng bó của mình, thầy đề nghị nên ở lại đỉnh thác vì đường dốc đứng vòng vèo lại trơn trợt rất khó đi. Số là hôm qua, lúc đi lên mới được nửa đường cái vết chấn thương đầu gối trái trong một lần thi trước đây bỗng dưng tái phát rất đau, mình phải băng bó tạm cho dễ đi. Dĩ nhiên là không đời nào mình chịu ở lại, đi cả ngàn cây số từ Tây Nguyên về đây không lẽ lại ngồi chờ cơm. Nói thật là mình cũng không ngờ khi đi xuống cái chân nó lại đau đến thế. Tay gậy, tay vịn cây rừng cùng sự hỗ trợ của hai võ sinh nhưng mỗi bước đi là một lần nhăn mặt. Bù lại, mình được hưởng cái cảm giác choáng ngợp và sửng sốt khi được ngắm trọn vẹn ngọn thác Đỗ Quyên sừng sững từ dưới chân của nó. Bao nhiêu ngọn thác mà mình có dịp đi qua đều không thể so sánh với Đỗ Quyên về mức độ hùng vĩ và hoang sơ. Bằng một cuộn dây thừng buộc vào rễ cây và những tảng đá, lần lượt từng người theo dây xuống đến bãi đá khá bằng phẳng ngay dưới chân thác. Vào mùa mưa nhiều, không ai dám xuống đến đây vì có thể bị nước cuốn phăng đi bất cứ lúc nào. Những người canh rừng bảo chỉ có thầy trò Nghĩa Dũng Đường là tìm được con đường độc đạo bằng dây thừng mà xuống, còn tất cả du khách đều phải dừng lại từ phía tên. Nghe đâu có người cảm khái đặt tên cho "con đường" có một không hai này là đường Nguyễn Văn Dũng. 
       Trong miên man tiếng âm ào thác đổ, thầy nói với mình rằng không biết bao nhiêu lần thầy đã đến đây, đã ngắm ngọn thác này nhưng lần nào thầy cũng cảm thấy xúc động trước cái vĩ đại của tạo hóa. Đứng khoanh tay ngước mắt nhìn lên đỉnh ngọn thác xa mờ, thầy còn nói thêm, giọng  nghe xa xăm như đang tâm sự với núi rừng: "Thầy chia sẻ với em một điều, sau chuyến đi này thầy sẽ không viết gì, không nói gì về Bạch Mã nữa". Chỉ thế thôi, rồi thầy im lặng, cái im lặng đủ để mình hiểu rằng, không nên hỏi thêm hay làm ngắt đi dòng suy tưởng không thể là tầm thường của thầy, một võ sư từ lâu gắn bó gần như ruột thịt với ngọn núi mà ông từng lấy làm biểu trưng của Võ đường. Mình cũng im lặng.

      Ngày xưa, khi thầy quyết định chọn Bạch Mã sơn để làm biểu trưng cho Nghĩa Dũng Đường, thực lòng mình không lấy làm bất ngờ. "Kẻ nhân thích núi", những bậc hiền nhân ở đời xưa nay vẫn thường chọn núi cao để trui rèn những giá trị tâm linh. Ở đó là nơi hội tụ nhiều năng lượng sống của vũ trụ, và khi con người biết phương cách để hòa nhập cái ngã của mình vào với núi thì có thể thu nhận được nguồn năng lượng tâm linh vô biên này mà thăng hoa cho cơ thể và tâm hồn, từ đó mà có đủ công phu để giúp người, giúp đời. Nhiều hiền nhân, đạo sĩ cốt cách hơn người đã được tái sinh từ những ngọn núi cao. Thầy mình từng đặt chân đến những ngọn núi nổi tiếng trên thế giới, từ Phú Sĩ của đất nước Mặt Trời mọc, Himalaya huyền bí, Tây Tạng xa xôi cho đến tận núi Linh Thứu Ấn Độ, nơi Đức Phật Thích Ca thuyết giảng nhiều bộ kinh quan trọng của nhà Phật sau khi giác ngộ. Thế nhưng có lần thầy tâm sự, không có ngọn núi nào thầy đi qua mà năng lượng tâm linh còn dồi dào như Bạch Mã. Chỉ cần tĩnh tọa, thư thái, hòa được cái tâm bé nhỏ của mình với núi rừng như giọt nước hòa vào đại dương, sẽ cảm nhận được nguồn năng lượng mênh mông tươi mới của núi rừng Bạch Mã. Chỉ tiếc rằng giữa cõi thế nhọc nhằn này, con người quá bận rộn, tất bật với những hỉ nộ ái ố ở đời mà không chịu cúi đầu ngồi xuống dưới chân núi một lần để thanh khiết tâm hồn mình vốn đã quá mịt mờ u tối theo tháng năm.

      Chơt giật mình. Thầy đã có mặt trên bạch Mã từ năm 1956, khi còn là cậu bé 15, 16 tuổi. Hàng chục năm nay, kể từ năm 1980, năm nào thầy cũng lên Bạch Mã, chí ít là một lần để "rèn luyện, tĩnh tâm và hòa cái thân bé nhỏ của mình vào đại ngã bao la". Từ đó, thầy đã có biết bao nhiêu là bài viết đăng ở nhiều sách báo khác nhau về nhiều cung bậc của ngọn núi này.  Điều gì đã thôi thúc thầy quyết định sẽ không phát ngôn gì nữa về Bạch Mã?  Thầy đã nhận ra điều gì chăng sau ngần ấy năm tâm giao cùng Bạch Mã, ngọn núi mà thầy luôn coi là "cõi riêng, trầm lắng, thanh thoát mang phong vị thiền"? Mình mang theo những băn khoăn ấy cho đến ngày xuống núi. 

       Bạch Mã lùi dần sau lưng  cũng trên con đường ấy, khoảng cách ấy nhưng chúng tôi không hề thấy cách xa như lúc đi lên. Đơn giản thôi, như cái đai trắng lúc chúng tôi bắt đầu tập võ và cái đai trắng dần sau huyền đai, một mảnh tâm hồn chúng tôi đã ở lại cùng Bạch Mã, một mảnh tâm linh Bạch Mã đã theo chúng tôi ra về, như thế thì còn đâu là xa cách.

      Một lần ngồi nghỉ mệt bên cạnh một dòng suối nhỏ, uống một ngụm nước mát lạnh, nhắm mắt tĩnh tâm hướng về phía đỉnh núi xa mờ đã trở nên thân thiết, mình cố hòa nhập với núi. Mình như thấy lại một đêm sao rừng huyền diệu, những gã khổng lồ đêm kì quái, bản nhạc rừng kìa lạ, thác Đỗ Quyên lừng lững vô thường, ánh lửa rừng đêm ấm cúng tình thầy trò huynh đệ, Vọng hải đài với những tân huyền đai trang nghiêm, vững chãi...những hình ảnh vừa như thật gần vừa xa xôi lướt qua tâm thức mình một cách tĩnh lặng. Thốt nhiên mình hiểu được thầy. Như ngọn Bạch Mã sừng sững kia tự tại ở đó qua biết bao đời nay, dù nắng dù mưa, dù thế sự vô thường, lòng người thay đổi. Núi vẫn bao dung như vạn thuở, ngôn ngữ không lời của núi đủ lay động thế nhân, trong đó có cả thầy.

       Lão Tử từng nói: "Đạo khả Đạo phi thường Đạo", Đạo không thể được nói ra, và nếu nó được nói ra thì không còn là Đạo nữa. Suốt quãng đời của mình, thầy đã nói thật nhiều, đã dạy thật nhiều những thế hệ học trò. Nay là lúc để cho tất cả những gì đã qua trong đời thầy lắng đọng trong tĩnh lặng, lan tỏa như năng lượng của núi rừng. trong một không gian tâm giao và với cái tâm hòa nhập, đến lượt mình, những đệ tử của thầy có thể cảm nhận, có thể tự chuyển hóa trên con đường đến với Đạo. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong một lần chú tâm cũng từng nghe sông núi "Im lặng dòng sông tôi đã lắng nghe/ Im lặng ngọn đồi tôi đã lắng nghe", chúng tôi, những huynh đệ Nghĩa Dũng Đường, những đệ tử của thầy cũng đang lắng nghe. Chúng tôi vẫn tiếp tục lắng nghe thầy, lắng nghe Bạch Mã, lắng nghe cả từng hơi thở của chính mình. Và, trong sự lắng nghe yên tĩnh ấy, chắc chắn chúng tôi sẽ cảm nhận được nguồn năng lượng tâm linh đủ làm tươi mới tâm hồn mà bước đi giữa đời với bước chân vững chãi và trái tim yêu thương.

BM1