Nguyên bản: Children
And a woman who held a babe against her bosom said, "Speak to us of Children."
And he said:
Your children are not your children.
They are the sons and daughters of Life's longing for itself.
They come through you but not from you,
And though they are with you, yet they belong not to you.
You may give them your love but not your thoughts.
For they have their own thoughts.
You may house their bodies but not their souls,
For their souls dwell in the house of tomorrow, which you cannot visit, not even in your dreams.
You may strive to be like them, but seek not to make them like you.
For life goes not backward nor tarries with yesterday.
You are the bows from which your children as living arrows are sent forth.
The archer sees the mark upon the path of the infinite, and He bends you with His might that His arrows may go swift and far.
Let your bending in the archer's hand be for gladness;
For even as he loves the arrow that flies, so He loves also the bow that is stable.
Bản dịch của Giải Nghiêm
Người phụ nữ ôm con trên ngực, yêu cầu Ngài: “Xin hãy nói về Con.”
Ngài đáp rằng:
Con của bạn không là con của bạn.
Họ là con trai, con gái của giấc mơ Đời - hay khao khát của Cuộc Đời dành cho chính nó.
Con cái đến qua bạn nhưng không từ nơi bạn,
Dù đi theo nhưng không thuộc về mình.
Bạn có thể cho con tình yêu nhưng không thể cho con mình suy nghĩ.
Bởi vì con có suy nghĩ của riêng mình.
Bạn có thể dựng nhà cho hình hài con mình trú ngụ, nhưng không sao ban chỗ trú tâm hồn,
Vì tâm hồn các con ngụ ở ngôi nhà của tương lai, nơi bạn không thể nào thăm viếng, cho dù trong giấc mộng của mình.
Bạn có thể cố cho mình giống chúng, nhưng đừng mong bắt chúng giống như mình.
Vì sự sống không đi lùi trở lại, và cũng không nán lại với hôm qua.
Bạn là những cánh cung - từ nơi đó con cái như những mũi tên gửi đi về phía trước.
Người bắn cung nhìn thấy đích trên con đường của vô biên, và uốn cây
cung với sức mạnh của Người để những mũi tên Người có thể đi nhanh và
xa tới.
Hãy vui khi uốn nắn mình dưới bàn tay xạ thủ, bởi Người thương mũi
tên bay vút bao nhiêu thì Người cũng thương cây cung vững vàng ổn trụ
bấy nhiêu.
Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013
Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013
Những Bí Ẩn Khiến Cả Thế Giới « Bàng Hoàng »
Hơn
6 000 năm trước tên lửa đã xuất hiện , Kim Tự Tháp sản xuất ra điện
năng hay hòn đá tự di chuyển là những bí ẩn mà các nhà khoa học thế giới
ngày nay cũng phải « bó tay » ...
Tiếp
theo những câu chuyện kỳ lạ về chiếc đầu lâu pha lê nguyên chất , chiếc
búa từ 140 triệu năm trước , bức điêu khắc lớn nhất nặng 2000 tấn ,
chiếc đĩa ngoài trái đất ... đặt ra những hoài nghi về những phát minh
tuyệt vời và bí ẩn từ người Cổ Đại .
Một lần nữa, điều này cho thấy rằng thế giới vẫn hoàn toàn bí ẩn đối với con người. Những gì con người biết tới chỉ như những hòn đảo nhỏ nhoi nhô lên giữa đại dương...
Con búp bê đá kỳ lạ
Vào tháng
07/1889 ở Boise , Idaho , khi một nhóm người đàn ông đào giếng thì khám
phá ra một con búp bê làm bằng tay . Họ tỏ ra vô cùng phấn khích khi
thấy « con búp bê » được tìm ở độ sâu 320 feet . Các nhà khoa học dự
đoán nó có niên đại từ trước khi có sự xuất hiện của con người trên trái
đất . Nghi vấn này chưa bao giờ được giải mã , chỉ duy nhất một người
nói rằng mọi nguyên tắc nghiên cứu đều vô hiệu .
Chiếc bu lông sắt 200 triệu năm tuổi
Được
tìm thấy gần như ngẫu nhiên , Trung tâm thám hiểm « MAI-Kosmopoisk »
đang tìm kiếm các mảnh vỡ thiên thạch ở phía Nam Kaluga Region , Nga thì
anh Dmitry Kurkov tìm thấy một mảnh đá . Vật anh thấy có thể thay đổi
nhận thức của nhân loại về trái đất và lịch sử không gian . Khi gạt đi
bụi bẩn trên bề mặt nó , bên trong hiện ra ... một chiếc chốt dài gần 1
CM . Bulong và quả hạch ở trên cùng khớp chặt với nhau .
Tàu Hoả Tiễn Cổ Đại
Hình ảnh Cổ Đại trong một hang động ở Nhật
từ 5 000 năm trước Công Nguyên
từ 5 000 năm trước Công Nguyên
Sa
mạc Sahara ở Ai Cập , nơi xuất hiện lâu đời nhất của thiên văn học ,
những tảng đá trên thế giới : Nabta . Hàng nghìn năm trước , con người
xây một vòng tròn đá và các công cụ khác trên hồ , nơi đã khô cạn từ
lâu . Hơn 6 000 năm trước , các phiến đá cao 3 mét đã được kéo hàng KM
để xây dựng nên nơi này . Những tảng đá được chụp trong hình chỉ là một
phần của phức hợp được bảo tồn . Mặc dù sa mạc phía Tây Ai Cập hoàn toàn
khô ráo thì trước đây lại không phải như vậy . Có bằng chứng rõ ràng
rằng nơi đây trong quá khứ có một vài giai đoạn ẩm ướt ( khi lên tới 500
mm lượng mưa trong 1 năm . ) Giai
đoạn đóng băng cuối cùng là từ khoảng 130 000 đến 70 000 năm trước .
Trong suốt giai đoạn này , vùng này là một hoang mạc là nơi sống của
nhiều loài động vật như trâu đã tuyệt chủng , và hươu cao cổ lớn , các
loài linh dương khác nhau .
Bắt
đầu từ 10 thế kỷ trước công nguyên , vùng sa mạc Nubian bắt đầu có
nhiều mưa hơn , nước lấp đầy thành hồ . Con người sớm có một khu vực hấp
dẫn về nguồn nước uống . Các khám phá khảo cổ học chỉ ra dấu tích của
con người xuất hiện ít nhất là vào thiên niên kỷ thứ 8 hoặc thứ 10 trước
công nguyên .
Những hòn đá chuyển động
Bất
kỳ người nào kể cả cơ quan vũ trụ NASA cũng không thể giải thích được
hiện tượng này . Thật tuyệt vời khi quan sát sự chuyển động kỳ diệu của
những hòn đá trên mặt hồ khô cạn thuộc Công viên Quốc gia của Thung lũng
chết . Đáy hồ Racetrack Playa trải khá rộng , kéo dài 2 ,5 km từ Bắc
sang Nam và 1 ,25 km từ phía Đông sang Tây , và bị bao phủ bởi bùn nứt .
Những hòn đã làm di chuyển chậm bùn dưới đáy hồ , để lại một vệt dài
như bằng chứng .
Chúng
di chuyển độc lập , nhưng không một người nào nhìn thấy hay ghi lại
cảnh chuyển động đó bằng camera . Những chuyển động tương tự ở các nơi
khác thì đã được ghi hình lại . Tuy nhiên , số lượng và chiều dài của
những hòn đá ở hồ khô Reystrek là duy nhất .
Kim Tự Tháp có điện năng từ xa xưa
Những
tấm mica lớn được tìm thấy ở trong những bức tường ở Teotihuacan ,
thành phố Mexico Cổ Đại . Trong khi đó , mỏ sản xuất mica gần nhất được
đặt tại Brazil , cách đó hàng nghìn dặm . Mica được dùng trong sản xuất
điện năng . Trong trường hợp này , câu hỏi đặt ra là tại sao những thợ
xây lại đùng khoáng chất này trong những toà nhà của thành phố . Kiến
trúc xây xựng Cổ Đại tiết lộ một vài nguồn năng lượng bí ẩn dùng để sản
xuất ra điện năng .
Người khổng lồ hoá thạch
Người
khổng lồ Alen hoá thạch được phát hiện vào năm 1985 , với chiều cao hơn
12 feet ( 3,6 mét ) . Người khổng lồ được phát hiện trong một khu mỏ ở
Antrim , Ai len . Hình ảnh được chụp và đăng tải tạp chí Standard của
Anh vào tháng 12/1985 . Người này có 6 ngón chân trên bàn chân phải .
Chó tự tử hàng loạt
Những chú
chó tự tử trên cầu ở Overtown , gần Milton , Dumbarton , Scotland .
Được xây dựng vào năm 1859 , chiếc cầu nổi tiếng với những trường hợp
không giải thích được nơi hàng loạt chú chó nhảy từ trên cầu xuống để tự
tử . Đặc biệt là những loài chó mũi dài , như giống Cô Li , nhảy rất
nhanh và bất ngờ từ độ cao 50 feet , dẫn đến chết .
Kim Tự Tháp của Atlantis
Những
nhà khoa học tiếp tục phát hiện ra khu kiến trúc đổ nát gọi là Eo biển
Yucatan gần Cuba . Chúng được tìm thấy cách bờ biển nhiều dặm . Các nhà
khảo cổ Mỹ đã phát hiện ra nơi này , và ngay lập tức thông báo rằng họ
đã tìm thấy Atlantis ( không phải là công trình khảo cổ dưới nước đầu
tiên ) . Hiện tại , nơi đây thỉnh thoảng được các thợ lặn ghé thăm để
chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc quyến rũ dưới nước .
Người khổng lồ ở Nevada
Nevada
theo truyền thuyết Ấn Độ kể về người khổng lồ da đỏ 12 chân ở đây .
Theo lịch sử của người Mỹ bản địa , người khổng lồ này đã bị giết trong
một hang động . Trong suốt cuộc khai quật vào năm 1911 , người ta đã tìm
thấy bộ hàm của con người . Bộ hàm này được đặt cạnh bộ hàm nhân tạo
trong ảnh . Vào năm 1931 , 2 bộ xương được tìm thấy ở đáy hồ . Một trong
số chúng cao 8 foot ( 2,4 M ) , bộ kia cao hơn một chút , cao 10 feet
( 3 M )
Chiếc nêm kỳ lạ
Một
chiếc nêm bằng nhôm được tìm thấy ở Romania vào năm 1974 , trên bờ con
sông Mures , gần Ayud , Tây Âu . Người ta tìm thấy nó ở độ sâu 11 mét ,
gần bộ xương của con voi khổng lồ Mastodon , loài động vật đã tuyệt
chủng . Vật này giống như đầu chiếc búa khổng lồ . Viện khảo cổ học
Cluj-Napoca cho biết chất tạo nên chiếc nêm này gồm một hợp kim nhôm phủ
một lớp dày oxit . Hợp kim nhôm này chứa 12 thành phần khác nhau . Kỳ
lạ là cho đến năm 1808 nhôm mới được phát hiện trong khi độ tuổi của cổ
vật này xuất hiện cùng với hài cốt của con vật đã tuyệt chủng được xác
định là từ 11 000 năm trước .
Chiếc đĩa UFO
Chiếc
đĩa Loladoffa có niên đại 12 000 năm tuổi được tìm thấy ở Nepal . Điều
đó chứng tỏ dường như Ai Cập không phải là nơi duy nhất chứng kiến sự
ghé thăm của người ngoài hành tinh thời Cổ Đại . Đây rõ ràng là một UFO
trong hình dạng một chiếc đĩa . Trên đó cũng có những bức tranh và các
ký hiệu điển hình tương tự với các vật thể lạ ngoài trái đất .
Chiếc búa bằng hợp kim sắt nguyên chất
Chiếc
búa trông có vẻ bình thường này lại làm khó các nhà khoa học . Phần kim
loại của chiếc búa có chiều dài 15 cm và đường kính khoảng 3 inches .
Nó đã bị chìm trong đá vôi có niên đại 140 triệu năm , cùng với những
mảnh đá khác .
Bà
Emma Hahn đã phát hiện ra điều kỳ diệu này vào tháng 6/1934 trong mỏ đá
gần thị trấn Mỹ , bang Texas . Các chuyên gia đã giám định , và đi đến
một kết luận : đó là một trò chơi khăm . Tuy nhiên , những nghiên cứu
sau này với các cuộc điều tra hàn lâm khác nhau đã chỉ ra nó phức tạp
hơn ta tưởng .
Đầu
tiên , tay cầm bằng gỗ đã hoá đá , và bên trong biến thành than qua
hàng triệu năm . Thứ 2 , các chuyên gia ở Học viện Metallurgical ,
Columbus ( Ohio ) rất kinh ngạc với hợp chất hoá học bị chìm trong đất
gồm : 96,6 % sắt , 2,6 % Chlore và 0,74 % sulfur ( soufre ) , và không
có một tạp chất nào . Trong khi , sắt nguyên chất chưa từng được phát
hiện trong lịch sử các kim loại trên trái đất . Trong phần kim loại
không tìm thấy các kim loại sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất
thép [ như manganese , cobalt , nickel , tungstène ( tungsten ) ,
vanadium hay molypdène ( molypdium ) . Không có tạp
chất , và tỷ lệ % của Chlore lớn bất thường . Đáng ngạc nhiên là không
thấy dấu vết của carbon , trong khi quặng sắt từ từ trường Trái đất luôn
luôn chứa carbon và các tạp chất khác . Nhìn chung , theo những quan
sát hiện đại , phần sắt của chiếc búa không phải là loại chất lượng
cao . Nhưng phần đặc sắc là : sắt của chiếc búa này không bị rỉ sét !
Không có dấu hiệu của sự ăn mòn .
TS
KE Bafa , Giám Đốc Bảo Tàng Cổ vật khoáng sản , nắm giữ chiếc búa này
ước tính nó được tìm thấy từ đầu thời kỳ kỷ Phấn trắng , tức là từ 140
đến 65 triệu năm trước . Trong khi đó , trình độ khoa học của con người
có thể làm công cụ này chỉ có thể từ 10 000 năm trước . Tiến sĩ
Hans-Joachim Tsilmer từ Đức kết luận cho khám phá bí ẩn này : chiếc búa
được làm từ một công nghệ chưa từng thấy .
Chiếc đầu lâu pha lê làm từ đá thạch anh nguyên chất
Một
chiếc đầu lâu pha lê đã được khai quật vào năm 1927 ở Belize City Maya
Lubaantuma . Chiếc đầu lâu được tạo từ một mảnh thạch anh nguyên chất
với kích thước 12x18x12 CM . Năm 1970 , nó đã được phân tích trong phòng
thí nghiệm và đem đến một kết quả tuyệt vời . Hộp sọ được tạo ra không
bằng sử dụng các công cụ kim loại . Nó được hoàn thành trong khoảng 300
năm , là một ví dụ tuyệt vời về sự kiên nhẫn và một công nghệ cao chưa
lý giải được .
Chiếc pin cổ
Vào
năm 1936 , nhà khoa học người Đức Wilhelm Koenig làm việc tại Bảo Tàng
cổ vật ở Baghdad đã mang tới một vật thể lạ được tìm thấy trong quá
trình khai quật ở khu Parthian Cổ Đại gần thủ đô Iraq . Đó là một chiếc
bát bằng đất sét nhỏ cao khoảng 15 CM . Bên trong chưa một chiếc xi lanh
của tấm đồng , được bao phủ bởi một chiếc nắp đậy kín , đầu phủ nhựa ,
giữ cho thanh sắt ở trung tâm chiếc xi lanh hình trụ . Từ đó , tiến sĩ
Koenig kết luận rằng , nó là một chiếc pin điện , được tạo ra từ 2 000
năm trước cả phát minh ra pin của Galvani và Volta . Nhà Ai Cập Học Arne
Eggebreht đã tạo ra bản sao của chiếc pin cổ này
trong một chiếc bình đầy giấm rượu và nối với hệ thống đo lường cho
thấy có điện áp 0,5 V . Có thể người tiền sử đã sử dụng điện năng để tạo
nên những lá vàng mỏng .
Bức điêu khắc lớn nhất
Bức tượng
điêu khắc lớn nhất là ở Lebanon nặng 2000 tấn . Bạn sẽ được chiêm
ngưỡng bức tượng sau 2 giờ lái xe từ Beirut về Baalbek . Thềm Baalbek
kéo dài khoảng 20 mét là những khối đá cao 4,5 mét , và dài 4 mét . Kỳ
lạ là làm sao tổ tiên của ta lại có thể chạm khắc , vận chuyển và dựng
nên những khối đá khổng lồ như vậy ? Cho đến nay cũng không có phương
tiện kỹ thuật nào có thể di chuyển được .
Những Phi Hành Gia từ Ecuador
Những bức
tượng Phi Hành Gia Cổ Đại có niên đại hơn 2 000 năm được tìm thấy ở
Ecuador . Đọc cuốn sách của Erich Von Denikin bạn sẽ thấy rất nhiều bằng
chứng về việc này . Ông có rất nhiều cuốn sách , trong đó nổi tiếng
nhất là « Chariots of the Gods » , với những bằng chứng vật lý và giải
mã những chữ tượng hình và những công cụ khác khá thú vị .
Bánh răng kỹ thuật Antikythera
Cơ
cấu Antikythera là một thiết bị cơ khí được tìm thấy vào năm 1902 trên
một chiếc tàu bị chìm cổ xưa gần các đảo của Hy Lạp ở Antikythera . Có
từ 100 năm trước công nguyên , nó hiện được lưu giữ tại Bảo Tàng Khảo Cổ
Quốc Gia ở Athens .
Thiết
bị chứa 37 bánh răng bằng đồng trong một chiếc hòm gỗ để quay số và mũi
tên , sau đó đã được thiết lập lại để tính toán chuyển động của các
thiên thể . Các thiết bị khác của phức hợp này chưa từng được biết đến
theo văn hoá Hy Lạp .
Nó
có kích thước 33x18x10 CM , sử dụng một bánh răng khác tương đương với
chiếc đồng hồ cơ học như ta biết là được phát minh vào thế kỷ 18 .
Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013
VÊ CU VÀ CU LỜ
Đọc Vĩnh Quyền bỗng nhiên lại nhớ bọ Quang
Lập, thế mới lạ, hi hi...Hai nhà văn với hai phong cách văn chương đối nghịch
nhau chan chát.
Một nhà văn Cố Đô lả lướt Hương Giang "văn
chương không thoát được chất "Huế mệ"" với một nhà văn quê bọ bạo liệt sông Gianh
"tinh nghịch, đáo để, sâu cay và nhân hậu".
Thì hãy cứ liệt vài ví dụ xem...
- Kể chuyện về cuộc hội ngộ giữa đạo
diễn và diễn viên made by VQ thì rất Huế "Quay phim và cô diễn viên chính
mời anh đi ăn tối. Lúc này anh thấy thèm phóng về khách sạn tắm táp nước nóng
hơn là ăn nhưng vẫn nhận lời" (Đêm Huế...), trong khi bọ Lập quê choa thì kể
như ri "Một đạo diễn Hà Nội vào làm vở, thấy chị thì thích lắm...Ông này
nói tối nay đi ăn tối với anh nhé, chị cười nói ăn tối xong rồi sao nữa anh,
ông này cười cười, nói em còn hỏi anh câu đó. Chị nói thôi để em tụt quần cho
anh chơi ngay giờ. Ăn uống làm gì mất thời giờ. Nói xong thì tụt quần liền..."
(Người đẹp)
- Cu nào thì cũng có nhu cầu tán gái, bạn gái của VQ thì hiện ra đấy hương thơm và
màu sắc thế này "Anh mỉm cười đưa tay nhón viên cốm từ lá sen khẽ đặt vào
bàn tay mở cong gợi hình một cánh sen" (Đêm Huế vẫn như thế), bác Cu Lờ
thì thay cốm bằng sỏi, thay bàn tay mở cong hình cánh sen bằng cả tấm thân em
"Hôm ấy mình tắm dưới suối, em xuống lấy nước, đứng trên bờ lấy sỏi ném đá
trêu mình, mình nhảy lên đè nghiến em xuống..." (Ba lần yêu cô giáo).
- Đã đè nghiến em xuống thì chuyện gì
đến nó phải đến. Cũng là cảnh ái ân, nhưng chàng trai xứ Huế núp vào sau lưng tượng
Phật "Nàng rùng mình đón nhận, ôm ghì lấy chàng, chủ động kéo chàng cùng
lăn tròn ra phía sau tượng, sau lưng Phật..." (Sau lưng Phật); à ơi, Ba
Đồn quê choa lắm lúa nhiều khoai "Phía vạt khoai, có một bóng đen đang nằm
giữa hai vồng khoai...Bóng đen cứ nhấp nhổm, cái đít cứ nhoay nhoáy." (Con
nít bắt biệt kích)...
Mình yêu cái lặng lờ sâu lắng của dòng
Hương, nhưng mình cũng rất ngưỡng mộ cái "thoáng đãng dữ dội" (chữ bọ
Lập) của sông Gianh. Cũng thế, mình quý cả hai nhà văn với hai phong cách dường
như trái ngược nhau đến thế.
Nhưng nói cho cùng thì cả hai cũng chỉ là
một, đều dùng ngòi bút với trái tim của mình mà "tải đạo", cũng đều đau
đáu với những hỉ nộ ái ố đời người. Nói
cho cùng, hai phong cách ấy cũng chỉ là hai mặt của một vấn đề: Cuộc sống. Hai
mặt ấy tồn tại ở hai con người nhưng đôi khi chúng cũng có mặt nội tại trong
một con người, chúng song song tồn tại và định danh cho nhau, không có mặt này
thì không có mặt kia. Cũng như không có ngày thì cũng chẳng có đêm, không có thiên
đàng thì cũng chẳng có địa ngục vậy.
Nói cho cùng thì đích đến của bất kì
dòng sông nào mà chẳng là biển cả mênh mông.
Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013
GIÀU NGHÈO VÀ TÂM LINH
Trước hết hãy nói đôi điều về
chuyện giàu nghèo. Có hai loại giàu nghèo ở đời, giàu nghèo về vật chất (thứ mà
đa phần nhân loại bàn tới) và giàu nghèo về tâm linh. Giàu nghèo về của cải vật
chất thì đã rõ, một người giàu có về tâm linh là một người đạt tới giác ngộ
cao, sống với cái tâm thanh thản vô lượng và đầy lòng trắc ẩn. Osho gọi sự giàu
có vật chất là giàu có bên ngoài; giàu có tâm linh là giàu có bên trong.
Thế thì chuyện giàu nghèo ở đời
có liên quan gì đến tâm linh không nhỉ? Phương Tây rõ ràng là giàu có (vật chất)
hơn Phương Đông nhưng tôn giáo Phương Tây ra đời trong nghèo khó, có liên hệ gì
không khi càng nhiều người Phương Tây tìm đến, thậm chí là đốn ngộ với tôn giáo
Phương Đông?
Trong khi những tôn giáo phương
Đông xuất phát từ Ấn Độ lại được sinh ra trong sự giàu có, nhưng ngay tại đất nước
này thì lắm người nghèo đến thế? Có thật nhiều chùa chiền sư sãi ở các nước
Phương Đông, họ toàn là những người giàu có tâm linh, luôn trong trạng thái mãn nguyện
chăng?
Đoạn trích sau đây là những luận
giải của Osho về vấn đề này. Khoan bàn đến chuyện đúng sai, hãy cứ đọc và
suy ngẫm.
***
Hãy nghĩ về sự nghịch lí này: Khi bạn giàu có
bên ngoài, thì chỉ lúc đó bạn mới trở nên nhận biết về sự nghèo nàn bên trong -
qua sự tương phản. Khi bạn nghèo bên ngoài, bạn không bao giờ nhận biết về sự
nghèo nàn bên trong bởi vì không có sự tương phản nào. Bạn viết với phấn trắng
trên bảng đen, không phải trên tấm bảng trắng. Tại sao? Bởi vì chỉ trên bảng
đen chữ mới hiện ra rõ ràng. Cần phải có sự tương phản.
Khi bạn giàu có bên ngoài, thì bỗng nhiên sự
nhận biết sâu sắc xảy ra, rằng: “Bên trong tôi nghèo, tôi là một kẻ ăn xin”. Và
bây giờ, một trạng thái vô hy vọng đến như một cái bóng: “Mọi cái mà chúng ta
nghĩ về đều đã được đạt tới- mọi tưởng tượng và bứt phá đều được thực hiện- và
không có gì xảy ra từ nó, không có sự hài lòng, không có phúc lạc nào cả.”
Phương Tây hoang mang. Từ sự hoang mang này, một
ước vọng lớn khởi lên: làm thế nào để một lần nữa tiếp xúc với bản ngã của
mình.
Thiền định không là gì khác hơn ngoài việc cắm
rễ một lần nữa vào trong đời sống nội tâm, vào trong tính nội tại của bạn. Do vậy,
phương Tây đang trở nên rất quan tâm đến thiền định và rất quan tâm đến những
kho báu của phương Đông.
Phương Đông cũng quan tâm đến thiền định khi
phương Đông giàu có: điều này phải được hiểu. Đó là lý do tại sao tôi không chống
lại sự giàu có và tôi không nghĩ rằng sự nghèo nàn có một chút tính tâm linh
nào trong nó. Tôi hoàn toàn chống lại sự nghèo nàn, bởi vì bất cứ khi nào một đất
nước trở nên nghèo, nó đánh mất tất cả thiền định, tất cả những nỗ lực tâm
linh. Bất cứ khi nào một đất nước trở nên nghèo bên ngoài, nó không thể nhận biết
về sự nghèo nàn bên trong.
Đó là lý do tại sao trên những khuôn mặt Ấn Độ
bạn có thể thấy một loại mãn nguyện mà không được tìm thấy tại phương Tây. Nó
không phải là sự mãn nguyện thực thụ: nó chỉ là trạng thái u mê về sự nghèo nàn
nội tâm. Những người Ấn Độ nghĩ, “Hãy nhìn vào sự lo âu, sự thống khổ, và sự
căng thẳng trên những khuôn mặt phương Tây. Mặc dù nghèo, song chúng ta rất
sung mãn bên trong.” Đó là sự ngây ngô, vớ vẩn cực kỳ: thực ra, họ không sung
mãn. Tôi đã từng quan sát hàng ngàn người- họ không sung mãn. Một điều chắc chắn
đúng, là họ không nhận biết về sự bất mãn, bởi vì để nhận biết sự bất mãn, thì
phải cần đến sự giàu có bên ngoài Không có sự giàu có bên ngoài, thì không ai
nhận biết sự bất mãn bên trong của họ- và có thừa chứng cớ về điều đó.
Tất cả những avatar của những người Hindu đều
là vua hay là con trai của vua. Tất cả những tirtankara của đạo Jaina, những đạo
sư Jaina, đều là vua: đức Phật cũng vậy. Tất cả ba truyền thống lớn của Ấn Độ
đã cung cấp đầy đủ chứng cứ. Tại sao Đức Phật trở nên bất mãn, tại sao Ngài bắt
đầu một cuộc tìm kiếm thiền định? Bởi vì Ngài giàu có. Ngài sống trong xa hoa;
Ngài sống với tất cả mọi tiện nghi vật chất. Bỗng nhiên ngài trở nên nhận biết.
Và ngài chỉ mới 29 tuổi khi Ngài nhận biết rằng có một lỗ hổng đen bên trong.
Ánh sáng ở bên ngoài; do vậy, nó cho thấy bóng tối bên trong của bạn. Rồi ngài
trốn thoát khỏi cung điện.
Đó là điều đã xảy ra cho Mahavira: Ngài cũng
trốn khỏi một cung điện. Nó không xảy ra cho một kẻ hành khất. Cũng có những kẻ
hành khất trong thời của đức Phật. Thật ra, theo truyền thuyết, đức Phật từ bỏ
thế gian khi Ngài thấy một kẻ hành khất lần đầu tiên , và một ông già, một tử
thi, và một sannyasin. Những người ăn xin có mặt ở đó.
Đức Phật (lúc ấy là thái tử Siddharta) sắp
khai mạc một lễ hội dành cho giới trẻ. Từ cỗ xe vàng của mình, chàng thấy một kẻ
hành khất- lần đầu tiên, bởi vì phụ vương chàng đã bằng mọi cách sao cho thái tử
sẽ không bao giờ thấy một kẻ hành khất, hay một người bệnh, hay một người chết. Bởi vì Ngài đản
sanh, những nhà chiêm tinh đã nói với vua cha: “Nếu thái tử thấy những người
này, ngay lập tức thái tử sẽ từ bỏ thế gian, cho nên, đừng cho phép thái tử thấy
họ.”Do vậy, bất cứ nơi nào Thái tử thường đi tới, những kẻ hành khất được lệnh
chuyển đi nơi khác. Những người già sẽ bị chuyển đi, hay bị buộc phải ở trong
nhà họ, không được ra ngoài. Ngay trong khu vườn của thái tử, không chiếc lá chết
nào được cho phép. Mọi lá chết đều được thu dọn trong đêm, do vậy, vào buổi
sáng khi thái tử đi ra vườn, chàng chỉ có thể thấy sự trẻ trung, những chiếc lá
non, những bông hoa mơn mởn. Chàng chưa bao giờ thấy một bông hoa héo tàn.
Khi chàng thấy một kẻ hành khất đầu tiên…Và
câu chuyện ngụ ngôn này thật đẹp; nó nói rằng, chư thiên trở nên lo lắng; “Vua
cha đang quá thành công. 29 năm đã trôi qua và thái tử có năng lực trở nên một
trong những kẻ chứng ngộ nhất trên thế gian.” Chư
thiên trở nên lo lắng: “Phụ vương chàng xoay sở quá thành công, đến mức có thể
chàng sẽ không bao giờ gặp một kẻ hành khất hay một người già; chàng có thể bỏ
lỡ.” Do vậy, một vị thần hóa thành một kẻ hành khất, một vị khác, một ông già,
một vị khác, một người chết, và một vị khác, một sannyasin.
Do vậy, trong thời của đức Phật, những người
hành khất có mặt ở đó- nhưng họ không từ bỏ thế gian. Họ không có gì để từ bỏ;
họ mãn nguyện. Nhưng thái tử Siddharta trở nên bất mãn.
Xưa kia, khi Ấn Độ giàu có, nhiều người quan
tâm đến thiền định. Chẳng sớm thì muộn, họ buộc phải bắt đầu nghĩ về mặt trăng,
về cái “bên kia”, về cái bên trong. Bây
giờ đất nước nghèo, quá nghèo đến mức không có sự tương phản giữa cái bên trong
và cái bên ngoài. Cái bên trong nghèo, cái bên ngoài cũng nghèo. Cái bên trong
và cái bên ngoài ở trong sự hòa điệu hoàn hảo- cả hai đều nghèo! Đó là lý do tại
sao bạn thấy sự mãn nguyện trên khuôn mặt người Ấn, đó không phải là sự mãn
nguyện thực thụ. Và do vậy, người ta đã trở nên quen với việc nghĩ rằng sự
nghèo nàn có cái gì tâm linh trong nó.
Sự nghèo nàn được thờ phụng tại Ấn Độ. Đó là một
trong những lý do tại sao tôi bị kết án một cách liên tục, bởi vì tôi không ủng
hộ bất cứ sự nghèo nàn nào. Sự nghèo nàn không phải là tính tâm linh, sự nghèo
nàn là nguyên nhân gây ra sự biến mất của tính tâm linh.
Tôi muốn thế giới trở nên giàu có càng nhiều
càng tốt. Người ta càng giàu có, họ càng trở nên tâm linh. Và cả khi đó sự mãn
nguyện thực thụ mới có thể khởi lên.
Khi bạn có thể tạo ra sự giàu có bên trong,
thì sự hòa điệu lại xuất hiện – sự giàu có bên ngoài gặp sự giàu có bên trong-
rồi, có sự mãn nguyện thực thụ. Khi sự nghèo nàn bên ngoài gặp sự nghèo nàn bên
trong, thì có sự mãn nguyện giả dối. Sự hòa điệu là khả dĩ trong hai cách này.
Cái bên ngoài và cái bên trong hòa điệu, và người ta cảm thấy mãn nguyện. Ấn Độ
có vẻ mãn nguyện bởi vì có sự nghèo nàn ở hai phía của hàng rào.
Phương Tây bắt buộc phải quan tâm đến thiền định
, không có cách nào để tránh nó. Đó là lý do tại sao Kyto giáo đang đánh mất ảnh
hưởng của nó trên tâm trí phương Tây, bởi vì Kyto giáo chưa phát triển khoa học
thiền định trên bất cứ phương diện nào. Nó vẫn còn là một tôn giáo rất tầm thường;
Do thái giáo cũng vậy.
Phương Tây nghèo nàn khi những tôn giáo này được
sinh ra, đó là lý do. Cho tới lúc đó, phương Tây đã sống trong nghèo nàn. Do
Thái giáo, Kyto giáo, và Hồi giáo- tất cả ba tôn giáo Phi Ấn Độ này, đều được
sinh ra trong sự nghèo nàn. Chúng không thể phát triển những kỹ thuật thiền định,
không có nhu cầu. Chúng vẫn còn là những tôn giáo của người nghèo.
Bây giờ phương Tây đã trở nên giàu và có một
chênh lệch, cách biệt.
Những tôn giáo phương Tây đều được sinh ra
trong sự nghèo khó; chúng không có gì để tặng cho những người giàu. Đối với những
người giàu, chúng nom có vẻ trẻ con, chúng không mang lại thỏa mãn. Chúng không
thể làm thỏa mãn. Những tôn giáo phương Đông được sinh ra trong sự giàu có; đó
là lý do tại sao tâm trí phương Tây đang trở nên ngày càng quan tâm đến những
tôn giáo phương Đông. Vâng, tôn giáo của đức Phật đang có ảnh hưởng lớn; Zen
đang lan rộng như lửa cháy rừng. Tại sao? Nó được sinh ra từ sự giàu có.
Có một sự tương đồng to lớn giữa tâm lý học
phương Tây của con người hiện đại và tâm lý học của Phật giáo. Phương Tây ở
trong trạng thái tương tự như của đức Phật khi Ngài trở nên quan tâm đến thiền
định. Đó là cuộc tìm kiếm của một người giàu. Và cũng là trường hợp của Ấn độ
giáo, cũng là trường hợp của jaina giáo. Ba tôn giáo lớn này của Ấn Độ đều được
sinh ra từ sự giàu có; do vậy, phương Tây nhất thiết phải bị hấp dẫn bởi những
tôn giáo phương Đông này.
Phương Đông đang mất liên hệ với những tôn
giáo của chính mình. Ấn Độ không thể nào hiểu được đức Phật - nó là một đất nước
nghèo. Thực ra, những người Ấn nghèo đang cải đạo sang Kyto giáo. Những người Mỹ
giàu đang cải đạo sang Phật giáo, Ấn Độ giáo, Vedanta - và những người “tiện
dân”, những người nghèo nhất của Ấn Độ, đang trở thành những người Kyto. Bạn có
thấy cái điểm then chốt này không? Những tôn giáo này có một hấp dẫn nào đó đối
với người nghèo. Nhưng chúng không có tương lai nào cả, bởi vì không sớm thì muộn,
toàn thế giới sẽ trở nên giàu có.
Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013
Nhớ Trường xưa
Mình quen anh Tuấn từ năm 1994 khi học chung một lớp cử nhân Anh văn tại chức đầu tiên của Đại học Đà Lạt. Khi ấy anh là giám đốc một công ty về thủy lợi ở Huyện Đức Trọng còn mình đang là giáo viên Vật lí một trường cấp 3 ở Đà Lạt. Chẳng biết vì cái duyên gì nhưng từ bấy đến nay mình xem anh như một người anh trong gia đình, đồng thời là một người bạn vong niên.
Suốt thời gian cùng học và ngay cả sau này khi anh là giám đốc Sở Giao Thông rồi nghỉ hưu, mình luôn xem anh là tấm gương về học hành, nỗ lực.
Anh Tuấn gửi bài này cho mình đã lâu nay mới đọc được, càng mến phục anh hơn vì những cố gắng miệt mài trong khốn khó từ thuở nhỏ.
----------------------------------------------------
Sông Trà Bồng - Quảng Ngãi
Tôi được vào học ở Trường
Phan Đình Phùng, Trà Bồng như một sự may mắn tình cờ, như sự đưa đẩy của số phận
mà đã giúp một cậu bé nghèo nàn, đã bỏ học vài năm vì không thể nào đủ tiền để
theo học Trung học, trở thành một người đỗ đạt, thành công trong học tập và có
cơ hội cống hiến sau nầy.
Chính Trường Phan Đình Phùng,Trà Bồng, nơi dù
chỉ được học có 2 năm Đệ Thất và Đệ Lục ( Lớp 6, lớp 7 bây giờ) đã tạo cho tôi
một bước ngoặt trong cuộc đời, cho tôi cơ hội lớn để thay đổi số phận mình. Việc
học tập và vươn lên trong nghèo khó của tôi nhiều bạn biết, nhưng nay, nhân
ngày kỷ niệm 50 năm Trường Phan Đình Phùng, Trà Bồng (1963-2013), tôi viết ra
đây để cùng các bạn ôn lại kỷ niệm xưa và cũng để tỏ lòng tri ân, kính gửi tới
quý Thầy Đào Ngọc Luy, Phạm Phi, Trần Điệu, ba người Thầy kính yêu đã dạy dỗ,
giúp đỡ chúng ta ở ngôi trường tuy mới
thành lập, thiếu thốn mọi thứ nhưng rất hiệu quả trong giáo dục, đào tạo nầy.
Xin cầu chúc cho Thầy Đào Ngọc Luy, Thầy Phạm Phi được dồi dào sức khỏe, hạnh
phúc trong tuổi già và xin cho Thầy Trần Điệu được siêu thoát. Tôi cũng xin gửi
lời cầu chúc sức khỏe đến gia đình các bạn cùng lớp, cám ơn tất cả các bạn đã
dành cho tôi nhiều tình cảm ưu ái trong lúc tôi và gia đình hành nghề sửa xe đạp
để mưu sinh tại xã Trà Xuân (Trà Khương xưa). Tôi xin đặc biệt cám ơn hai bạn
Trầm Thế Phùng và Đặng Phi Hổ, những người bạn thân yêu đã giúp tôi tự khẳng định
được mình. Có lẽ chúng ta đã là bạn bè của nhau trong nhiều tiền kiếp cho nên đến
kiếp nầy, chỉ bằng vài hành động hay lời nói, các bạn đã giúp cho tôi một cơ hội
tuyệt vời, thật như Nguyễn Bính đã viết:
Ai
biết thương nhau từ buổi trước,
Bây
giờ gặp nhau trong phút giây.
( Hành phương Nam, Nguyễn
Bính).
Tôi tên thật là Hứa
Minh Tuấn, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1948 tại quê mẹ, Làng An Thọ, Xã Tịnh Sơn,
Huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Quê cha ở Xóm Mỹ Yên, Thôn Thọ Lộc, Xã Tịnh Hà, Huyện
Sơn Tịnh. Cha tôi thời thuộc Pháp, học làm công nhân ở Trường Bách nghệ, Huế.
Ra trường làm người lái tàu lửa trong ngành đường sắt, đoạn Tháp Chàm- Đồng Hới,
sau chuyển qua ngành đường bộ lái xe lu và điều hành công việc sửa chữa, dặm vá
đường. Thời kỳ kháng chiến về làm thợ máy ở Xưởng sản xuất giấy ở thôn Phú An, Xã Đức Hiệp, Mộ Đức.
Về già, trở về quê cũ ở Mỹ Yên, làm nghề rèn, sửa xe đạp và các việc linh tinh
mà bà con nông dân trong thôn, xóm cần. Cha tôi là con út trong một gia đình có
mười một người con. Chị ruột của Ông là Bà nội của Thầy Lê Ngọc Bửu (Thầy Bửu,
niên khóa 1958-1959, là Hiệu trưởng Trường Tiểu học Trà Khương, và là tác giả
bài thơ: Hương quyến luyến, viết về
Trà Bồng mà các bạn đều được học khi học ở Tiểu học với Thầy). Cha mẹ của Thầy
Lê Ngọc Bửu là những trí thức tuyệt vời. Tuy là cậu, cháu nhưng cha tôi và cha
Lê Ngọc Bửu là hai người bạn thân vì tuổi tác không chênh lệch nhiều mà tính
tình lại hợp nhau nữa. Cha tôi làm công nhân, ít học nhưng cha, mẹ Bửu là những
trí thức, học cao, hiểu rộng, nghệ sỹ đa tài, giỏi ngoại ngữ, giỏi âm nhạc; chồng
đệm đàn cho vợ hát rất hay. Cha tôi chính là người Thầy đầu tiên đã truyền cho
tôi ngọn lửa khát vọng học tập, vươn lên. Những đêm Trăng sáng hoặc những đêm
Trời mưa rả rích, cha con tôi cuộn nhau, bên hiên nhà của ai đó, trên đường đi
làm ăn xa vì ở quê bây giờ ít việc làm quá, cha tôi thường kể cho tôi nghe về
gia đình của Bửu, với một tấm lòng ngưỡng mộ. Tôi lớn lên thì cha của Bửu đã mất
nên tôi chưa được gặp anh, chị bao giờ nhưng hình ảnh và tầm vóc văn hóa lớn
lao của anh chị đã thấm vào người tôi, hình thành nên nhân cách của tôi, mà
ngay cả nếp nhà của tôi sau nầy, những quan niệm về giáo dục con cái, cũng là
nguyên mẫu của gia đình anh chị tôi ngày xưa, theo lời kể của cha, đã thấm vào
huyết quản của tôi tự thuở thiếu thời.
Nhà tôi có 3 anh chị
em. Chị hai tôi lớn hơn tôi 15 tuổi, học nghề Cô Đỡ ở Trường Y tế Cộng đồng Huế,
về làm Bà Mụ ở các Bệnh xá Quận Đức Phổ, Trà Bồng. Tôi và một đứa em trai, nhỏ
hơn tôi 4 tuổi. Nhà tôi ở sát bên đường cái quan từ Sơn Tịnh chạy lên Sơn Hà.
Nhà có lò rèn và sửa xe đạp. Cha con tôi làm thuê đủ thứ để kiếm sống, nói
chung là ai thuê gì cũng làm, từ việc hàn cái nồi đồng thủng đít cho tới việc sửa
cái thùng thiếc, gánh nước bị hỏng. Khi rèn, cha tôi làm thợ cái, cầm búa nhỏ,
còn tôi làm thợ phụ, cầm búa tạ. Tôi vừa leo lên dàn, thụt bễ vừa leo xuống,
quai búa. Thoăn thoắt. Hễ cha tôi đập cái búa nhỏ của ông lên miếng sắt đã nung
đỏ, kẹp bằng kèm đặt trên đe, thì lấy sức tôi quai búa tạ vào, làm cho miếng sắt
dẹt ra, dần hình thành ra cái rựa, hay cái lưỡi liềm, lưỡi cuốc. Âm thanh hai
chiếc búa đập xuống đe như thi đua nhau, quyện vào nhau, tạo thành một dãy âm
thanh nghe vui tai, nhưng những người tạo ra những tiếng động vui tai ấy thì đờ
đẫn, phờ phạc. Làm cả ngày như vậy mệt lắm, nhưng thu nhập vẫn không là bao. Vậy
mà, có lần, nghe mấy thanh niên, vừa cởi xe đi bên đường, vừa la to, khoan
khoái:
“Cốc cốc, cheng cheng,
Cốc cốc, cheng cheng.
Mầy cục, tao cục,
Mầy cục, tao cục.
Cha cục, con cục,
Cha cục, con cục.
Còn đập, còn nấu,
Hết đập, hết nấu!
Cốc cốc, cheng cheng.”
Cha tôi nghe vậy thì chửi
ầm lên, giận dữ, nhưng tôi thì buồn lắm. Tôi chỉ muốn được đi học, học để thoát
khỏi cảnh nghèo hèn nầy.
Sau khi tốt nghiệp Tiểu học năm 1960, tôi thi
vào lớp Đệ Thất Công lập Trần Quốc Tuấn nhưng không đậu, tôi học lớp Đệ Thất ở
Trường Tư thục Chấn Hưng được vài tháng thì nghỉ học, vì không có tiền đóng học
phí. Tôi ở nhà làm nghề, phụ cha tôi, được một thời gian rồi sau đó đi học nghề
sơn xe đạp tại Đức Phổ, để tăng thêm thu nhập. Chị Hai tôi, hồi nhỏ cũng là người
học giỏi, tặng tôi cuốn sách: Tự học để thành công của Nguyễn Hiến Lê, dường như để khuyến khích và an ủi tôi.
Tôi luôn đọc và nghiền ngẫm cuốn sách; mơ mộng, ước ao có được sự thành công
trong học tập như tác giả cuốn sách. Đây là người Thầy thứ hai của tôi. Tuy tôi
chưa gặp Ông bao giờ nhưng cuốn sách của Ông đã dạy tôi cách học, cách sắp xếp,
tổ chức công việc theo khoa học. Cả đời tôi đọc sách của Ông và nhớ ơn Ông, tôi
tự xem mình là một học trò nhỏ của Ông.
Tôi đến Trà Bồng vào
năm 1962, để mở tiệm sửa xe đạp, nhờ sự giúp đỡ của anh chị tôi, để kiếm tiền
giúp đỡ gia đình vì ở Tịnh Hà lúc đó, công việc làm ăn hoàn toàn bế tắc. Năm đó,
tôi 14 tuổi, thằng em tôi, 10 tuổi, cùng đi với tôi, nhưng đêm nào nó cũng khóc
vì nhớ mẹ. Tôi chẳng nhớ ai, tôi chỉ nhớ những cuốn sách của tôi mà thôi. Nguyễn
Trãi đã viết: Thư trung hửu nữ nhan như
ngọc (Trong sách có người thiếu nữ mặt đẹp như ngọc). Lúc đó thì tôi chưa
biết câu nầy, sau nầy lớn lên, trở thành con mọt sách, tôi mới biết nhưng thực
sự câu thơ đã diễn tả đúng tâm trạng của tôi lúc đó.
Anh chị tôi giúp tôi thuê cái quán của anh Sáu
Dặm, gần chợ Trà Lơm, để có chỗ sửa xe đạp. Công việc khá trôi chảy, thu nhập
khá lắm vì ở Trà Bồng lúc đó chỉ có vài tiệm thôi, mà tôi thì rất thạo nghề.
Cái quán của tôi, nằm sát căn nhà của Trầm Thế Phùng. Một hôm, tôi nghe Phùng học
ngoại ngữ. Tôi lắng nghe, không phải tiếng Pháp vì tôi đã học vài tháng tiếng
Pháp nhưng không nhận ra từ nào. Tôi qua xem Phùng học. Thì ra Phùng đang học
cuốn: Let’s Learn English (Nào chúng ta
hãy cùng học Tiếng Anh). Cuốn sách màu xanh, hấp dẫn. Tôi như nghe có một
ngọn lửa bùng lên trong tim. Tôi mê mẫn tâm thần, đưa tay chụp lấy cuốn sách, định
cầm lên. Bị Phùng chận lại:
“Tay
mầy dơ quá, mầy về rửa tay đi.”
Đúng là tay tôi đầy dầu
mỡ. Tôi về rửa tay tức thì và trở lại, mân mê cuốn sách một cách say sưa.
Tôi năn nỉ Phùng: “Mầy dạy tao học với nghe.”
“Nếu
mầy muốn học thì lên trường xin học, tao làm sao dạy mầy được.”, Phùng
trả lời.
Không đợi bạn nói gì
thêm, tôi qua cái quán tạp hóa bên kia đường, mua hai cuốn vở và hai cây bút
bi, một bút đỏ và một bút màu xanh. Trở về, tôi mượn cuốn sách của Phùng, vừa
chép vừa học và tự giải bài tập. Nhờ Phùng đọc cho nghe rồi bắt chước đọc theo.
Chữ nào, Phùng không đọc được, thì tôi tự nghĩ ra cách đọc, lai lai tiếng Pháp,
cốt yếu là nhớ mặt chữ đã, rồi tính sau! Ban ngày tôi sửa xe, lúc không có
khách, thì rửa tay rồi đem vở ra học. Vừa sửa xe, vừa lẩm nhẩm trong đầu những
từ vừa mới học.
“Mầy lầm
bầm cái gì đó, mầy?”
Có nhiều ông khách đang
sửa xe, la to lên như vậy vì không biết tôi đang lảm nhảm cái gì!
Tôi học như vậy cỡ một
tháng thì tôi cảm thấy mình đã giỏi hơn Phùng rất nhiều! Tôi quyết định đến gặp
Thầy Hiệu trưởng xin học. Tôi nhờ anh rể tôi dẫn đến gặp Thầy Đào Ngọc Luy ở
Trường. Thầy tiếp hai anh em tôi ở ngoài hành lang. Anh tôi vốn ít nói nên sau
mấy lời mở đầu, giới thiệu tôi với Thầy Luy, anh ấy đi làm việc. Đấy là một buổi
chiều rất định mệnh đối với cuộc đời
tôi.
Thầy bảo tôi: “Thôi để sang năm, niên khóa tới, thầy sẽ nhận em vào học. Bây giờ trễ
quá rồi, các bạn sắp thi rồi, nhất là môn tiếng Anh, làm sao em theo kịp. Thôi
sang năm nghe.”
Tôi nghe như vậy lòng bồn
chồn. Tôi như người đang chới với giữa dòng, đang chờ chực sự cứu vớt của Thầy.
“Thưa
Thầy, Thầy thông cảm cho em vào học. Năm nay, em 15 tuổi rồi, sợ sang năm không
có lớp và cũng không còn tuổi đi học nữa. Thưa Thầy, em sẽ cố gắng hết sức để
theo kịp các bạn.”
Tôi năn nỉ Thầy một cách tha thiết. Dường như
sự sợ hãi, tuyệt vọng, nếu bị Thầy từ chối nhận vào lớp đã thôi thúc tôi.
“Không
được, em ơi. Em sẽ không học nỗi môn Tiếng Anh đâu.”
,Thầy nói.
“Thưa
Thầy, Em sẽ học giỏi môn tiếng Anh.”, Tôi mừng rỡ trả lời.
Thầy cười với hai hàm răng trắng, miệng rộng
thanh tú, toát lên vẻ độ lượng, đôn hậu, thương yêu khi nghe câu trả lời đầy tự
tin của tôi.
“Em
học tiếng Anh ở đâu, với ai mà em dám bảo là em sẽ học giỏi môn tiếng Anh?”
Thầy hỏi tôi, cặp mắt nheo nheo, hóm hỉnh.
“Thưa
Thầy, em học theo bạn Trầm Thế Phùng.”, Tôi tự tin, trả lời.
Thầy cười ngất. Một
tràng dài, vẫn nhìn tôi với cặp mắt đôn hậu.
“Trời
ơi! Cái trò Phùng học tiếng Anh đã không muốn nỗi rồi mà em còn là học trò của
trò Phùng nữa thì làm sao mà em theo kịp lớp.”, Thầy
vừa cười vừa trả lời.
“Thưa
Thầy, vậy Thầy làm ơn, cho em học thử một tuần. Một tuần thôi. Một tuần đó nếu
Thầy kiểm tra mà em không theo kịp, em sẽ xin nghỉ, sang năm em xin học lại.”. Khát
vọng học tập, thôi thúc tôi thuyết phục Thầy.
“Thầy
xúc động quá. Trong đời dạy học của Thầy, chưa có học sinh nào, xin Thầy cho học
thử cả, em là người đầu tiên. Thầy đồng ý cho em vào học thử một tuần, nếu
không theo kịp, thì em hãy nghỉ, sang năm học nghe Tuấn!”,
Thầy bảo vậy.
Khi Thầy nhắc tên tôi nghe Tuấn, tôi nghe như có cả tình thương gói bên trong lời dạy của
người anh dành cho em, của người mẹ dành cho đứa con thương yêu của mình.
Rồi Thầy gọi Thầy Trần
Điệu đến và dặn kiểm tra môn văn, chính tả của tôi. Thầy Điệu bảo là tới giờ cả
lớp viết Chính tả rồi, Thầy đề nghị
cho tôi vào kiểm tra luôn. Thầy Luy đồng ý. Vậy là tôi được tạm thời vào lớp.
Sau khi Thầy Điệu giới thiệu tôi với lớp và nói rõ lý do cho tôi tham gia kiểm
tra môn Chính tả, Thầy bố trí tôi ngồi một bàn riêng, ngay trước mặt Thầy. Thầy
cho tôi một tờ giấy đôi, rồi quay ra cả lớp dặn chuẩn bị viết Chính tả. Tôi
không cảm thấy lo lắng gì vì tôi vốn giỏi môn văn từ nhỏ, lại hay đọc sách báo
và rèn luyện chữ viết, tự hào về chữ viết của mình! Bài chính tả hôm đó, đích thân
Thầy Trần Điệu chấm cho tôi. Thầy khen chữ tôi đẹp. Thầy chấm không lỗi và cho 20/20 điểm. Thầy trình kết quả với Thầy Luy. Thầy Luy vẫn nhìn tôi
cười với hàm răng trắng, cái miệng rộng, đầy độ lượng.
“Ngày mai, tới phiên Thầy kiểm tra môn tiếng Anh, nghe Tuấn!”, Thầy
dặn tôi.
Tối hôm đó, tôi mượn cuốn
sách tiếng Anh của Phùng để ôn thêm. Thực ra, chỉ là để cho an tâm, chắc ăn
thôi, chứ mọi thứ tôi đã thuộc nằm lòng rồi. Hôm sau, cái ngày dễ thương vô
cùng trong đời tôi. Khỏi phải nói là Thầy Luy khen tôi trước lớp như thế nào về
tinh thần ham học, tự học. Thầy cho tôi điểm tiếng Anh 20/20 và chính thức nhận tôi vào lớp ngay từ buổi sáng hôm đó,
không cần đợi học thử một tuần nữa. Từ đó về sau, tôi luôn luôn đứng đầu lớp. Cả
hai năm Thất, Lục, tôi đều nhận phần thưởng thứ Nhất. Cũng trong năm Đệ Thất đó, tôi đổi tên thành Hứa Văn Tuấn,
sinh ngày 01 tháng 01 năm 1950, do sự giúp đỡ của Bác Lục sự già ở Quận Sơn Tịnh
(nay là Huyện Sơn Tịnh) để đủ tuổi thi Tú tài sau nầy.
Tôi còn hai người Thầy,
hai tấm gương sáng trong tự học, tự vươn lên nữa.
Một người là Thầy Lê Ngọc
Bửu (tác giả bài thơ Hương quyến luyến,
viết năm 1959, tại Trà Bồng mà nhiều bạn thuộc!). Cha Bửu với tôi là anh em cô
cậu nên Bửu gọi tôi bằng chú. Tuy là cháu nhưng Bửu lớn tuổi hơn tôi nhiều và lại
là Thầy Hiệu trưởng. Khỏi phải nói, Cha tôi rất thương Bửu, Bửu là niềm tự hào
của Ông và như thế, Bửu đã trở thành thần tượng và là Thầy của tôi từ lúc nào,
dù Bửu chẳng dạy tôi ngày nào. Khi Cha mất sớm, Bửu sống với bà nội, vừa chăn
bò vừa cầm sách tự học. Hồi nhỏ tôi ngưỡng mộ Bửu bao nhiêu nhưng sau nầy, chứng
kiến những công trình của Bửu, làm thơ, dịch thơ, viết sách dạy tiếng Anh, đều
do tự học cả, thì tôi vô cùng thán phục Bửu. Bửu là một người tài thực sự. Người
nữa là anh con dì ruột tôi, anh Nguyễn Tấn Ích. Anh vào Sài Gòn, vừa làm thợ
may, vừa tự học. Nay anh là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, ở hải ngoại. Tôi nhớ ơn Anh vì Anh đã
truyền cho tôi ngọn lửa. Cứ mỗi lần, Anh về thăm quê thì Anh đều ghé thăm Cha mẹ
tôi. Mỗi lần như thế, Anh đều cầm tập vở của tôi lên và tấm tắc, khen ngợi.
“Dượng
ơi, dượng! Em Tuấn, nó viết chữ đẹp quá, viết văn hay quá, sao dượng không cho
em tiếp tục việc học, uổng quá vậy dượng?”
Mỗi lần như vậy, Cha
tôi đều thở dài buồn bã, thực ra thì Ông rất muốn cho tôi đi học, muốn lắm chứ,
muốn với khát vọng cháy bỏng, nhưng không biết làm sao, lấy tiền đâu ra?
Cuộc đời ta, có khi chỉ
vì một câu nói, một lời góp ý chân thành nào đó mà sẽ giúp ta đưa ra được những
quyết định quan trọng, làm ảnh hưởng đến cả cuộc đời sau nầy. Cuộc đời tôi là
như vậy. Hôm anh rễ tôi đưa tôi đến nhà anh Sáu Dặm, ở Trà Bồng, để xin thuê
cái quán của anh mở tiệm sửa xe như tôi đã kể ở trên. Anh nói với anh tôi:
“Thằng
em nầy, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú quá, sao không cho học văn hóa mà để đi sửa
xe đạp, uổng quá!”
Anh tôi giải thích với anh là do nhà nghèo
quá, không có tiền đi học.
Lời góp ý của anh Sáu Dặm như những giọt mưa
cuối mùa, tưới vào mảnh đất tâm hồn khô cằn, nắng hạn đang mong chờ từng giọt
nước của tôi, nó làm nẫy lên, những mầm mống khát khao, học tập đang bị chôn
vùi, qua năm tháng, như hạt bắp đang chờ cơn mưa trên cánh đồng khô hạn. Xin đội
ơn anh Sáu, xin cho Anh được an nghỉ.
Sau hai năm học ở Trà
Xuân và Trà Phú ( Xưa là Trà Khương và Trà An) Trường đóng cửa vì lý do chiến sự.
Thực ra, Trường Phan Đình Phùng, Trà Bồng, cũng chỉ mở cửa tạm thời thôi vì nó
chưa hề có Quyết định thành lập chính thức. Việc nầy làm cho học bạ hai năm Thất,
Lục của chúng tôi không được phê duyệt. Sau khi Trường nghỉ, chỉ có một số ít học
sinh có đủ điều kiện xuống Thị xã Quảng Ngãi tiếp tục việc học, còn đa số đều
phải nghỉ học. Trong số những học trò bỏ dỡ việc học có tôi. Tôi ở lại Trà Bồng
tiếp tục sửa xe đạp cùng Cha tôi. Công việc bây giờ ít lắm, đời sống vô cùng
khó khăn, thiếu lương thực trầm trọng. Tôi lại bàn với Cha tôi, gom cho tôi ít
tiền, để tôi vào Sài Gòn, kiếm nghề khác học, nhằm có thu nhập khá hơn, như nghề
sửa Radio chẳng hạn, chứ cái nghề sửa xe đạp bây giờ khó sống quá. Cha tôi đồng
ý. Tôi gom được một ít tiền làm lộ phí và xin đi nhờ máy bay quân sự xuống Quảng
Ngãi. Lúc nầy, các bạn Đặng Phi Hổ, Đặng Thái Quang đang học Trường Chấn Hưng mới,
trên đường Hùng Vương, và tạm trú trên nhà của chú Bùi Công Khanh, gần Ga An bố.
Tôi ghé qua đó, ở nhờ một đêm, và nhân tiện, mời các bạn đi uống nước, để hôm sau
tôi lên đường tìm nghề để học.
Ra khỏi quán giải khát, Hổ cầm tay tôi, nói: “Thôi, tạm biệt mầy, kể từ ngày mai, mầy sẽ
khoát áo công nhân, còn bọn tao vẫn khoát áo thư sinh!”
Câu nói, hơi mang màu sắc cải lương nầy, tự
dưng làm lay động lòng tôi, khơi dậy sự khát khao học tập đang bị cố chôn vùi mấy
tháng nay do sự bế tắc về kinh tế.
“Nếu bây giờ tao muốn vào học với mầy thì Trường có nhận không?”, Tôi
hỏi Hổ. “Được nhưng phải chịu ba điều kiện.”,
Hổ trả lời.
“Điều kiện gì?”, Tôi hỏi.
“ Thứ nhất là phải nộp đủ học phí từ đầu năm đến nay. Thứ hai là phải tự
lo việc phê duyệt học bạ hai năm Thất, Lục ở Trà Bồng, Trường nầy không chịu
trách nhiệm. Thứ ba là phải lo học vì năm nay, Đệ Ngũ, khó lắm, Quỹ tích khó
quá, tụi tao học từ đầu năm mà theo còn không muốn nỗi huống hồ gì mầy mới vào.”,
Hổ đáp.
Tôi nhẩm số tiền mình
mang theo. Đủ nộp học phí từ đầu năm đến nay cho Trường, còn dư chút đỉnh. “Mầy có thể nói giúp với Ông bà chủ nhà cho
tao ở tạm và ăn cơm vài tháng rồi tao trả tiền sau được không?”, Tôi nhờ Hổ.
“ Tao nghỉ là được vì Ông bà chủ chứa học sinh cho vui nhà thôi chứ
không phải vì tiền vì Ông chủ là Thầu khoán.”, Hổ trả lời.
“Vậy ngày mai tao vào nộp tiền và đăng ký học
cùng lớp với mầy, tao không đi Sài Gòn nữa.”, Tôi quyết định.
“Vậy thì tốt.”, Hổ đáp.
Tôi nhớ ơn Đặng Phi Hổ.
Hổ là đứa học trò thông minh, nghệ sĩ, luôn vì bạn bè, dễ tính, dễ gần, luôn
giúp đỡ bạn bè. Hổ chơi đàn hay, hát hay. Khi còn học ở Trà Bồng, nhiều lần hai
đứa ôm nhau ngủ, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, rồi cùng nhau cười ha hả,
vui sướng vô cùng.
Tới đây, tôi cũng xin cảm
tạ Cô Chú Bùi Công Khanh, đã giúp đỡ tôi rất nhiều.
Mới đầu, vào học Đệ
Ngũ, khó quá, học không muốn nỗi, được Thầy Châu, một vị Thầy già nghiêm khắc,
xếp tôi vào hạng đội sổ của lớp. Tôi không hề nản chí. Tôi học gấp ba, bốn lần
các bạn khác. Các bạn ngủ tôi vẫn học. Các bạn chưa thức, tôi đã thức dậy tự
lúc nào và đang ngồi học. Nhờ vậy, có nhiều chuyện thật vui. Có lần Thầy Châu
thấy tôi vươn lên tốp đầu trong lớp, Thầy kéo mục kỉnh xuống và la to lên.
“Cái
trò Hứa Văn Tuấn nầy, mới vào, mấy tháng trước còn đội sổ, tháng nầy vị thứ 5,
tại sao? có coi bài trò Hổ không đây?” Nói rồi Thầy gọi tôi
lên bảng trả bài, tôi làm bài thông suốt, Thầy gật gật nhưng có vẻ chưa tin!
Nhưng từ đó về sau cùng với Đặng Phi Hổ và nhiều bạn khác, tôi là một trò giỏi
trong lớp.
Cuối năm đó, tôi chuyển
vào Đức Phổ, thi vào Công lập trong Trường Bán công Lê Văn Duyệt, Đức Phổ, tôi
đậu đầu nên không phải nộp học phí. Học ở Đức Phổ khá nổi tiếng nên tôi được một
gia đình mời về làm gia sư, cho ở trong nhà, ăn cơm miễn phí để dạy cho con cái
họ, trong đó có một người bạn học cùng lớp với tôi. Vừa có nhà ở, có cơm ăn lại
không phải lo học phí nên năm này tôi học xuất sắc. Xin nhớ là đất Đức Phổ là đất
học nên lớp tôi có rất nhiều bạn học giỏi nhưng tôi vẫn nhỉnh hơn. Cuối năm đó,
tôi thi Trung học Đệ Nhất cấp để được nhận vào Trần Quốc Tuấn vì học bạ hai năm
ở Trà Bồng, không được phê. Tôi đậu Bình Trung học Đệ Nhất cấp và được nhận vào
Trường Trần Quốc Tuấn. Vừa làm Gia sư, vừa dạy kèm tôi đủ tiền ăn học. Hai năm
sau, năm 1969, tôi đậu Tú tài 1, Hạng Bình, là một trong 7 học sinh đậu cao nhất
ở Quảng Ngãi, không có người đậu Ưu.
Sau khi đỗ Tú tài 2, rồi
tốt nghiệp Đại học Kỹ thuật Phú Thọ (nay là Đại học Bách Khoa TPHCM), tôi ra
công tác ở Đà Lạt. Sau hơn 10 năm công tác, tôi có học bỗng học Thạc sĩ tại Đại
học Roorkee, Ấn độ. Tôi tốt nghiệp Thạc sĩ, loại giỏi (First Division) nên tôi
được Trường chấp thuận cho làm tiếp Tiến sĩ và, thực sự, tôi cũng có một cơ hội
đi học ở Nhật nữa, nhưng năm đó, tôi đã 41 tuổi rồi, nghĩ thương vợ tôi, một
mình nuôi con nhỏ, mẹ già, nên tôi đành thôi, ở nhà tự học, làm việc và nuôi dạy
con cái. Đối với tôi, nàng thiếu nữ ẩn trong trang sách mà Nguyễn Trãi đã ví,
luôn trẻ trung và hấp dẫn!
Năm nay, sau 50 năm,
ngày đầu tiên đến với lớp học ở Trường Phan Đình Phùng, tôi trở lại thăm Trà Bồng
xưa, cùng đi có vợ và con trai lớn của tôi, dự họp lớp cùng bạn bè 50 năm trước.
Lòng tôi bồi hồi xúc động. Bạn cũ, nhiều người đã ra đi, có người mãi mãi nằm lại
ở vùng xa xăm nào đó; Thầy cũ, người mất, người ở xa; cảnh cũ, giờ hiện đại quá
đỗi, không còn bóng dáng của những căn phố nghèo, u tịch ngày xưa. Lòng tôi
tràn ngập một nỗi buồn, hoài niệm về những năm tháng trên mãnh đất nầy, những
con người năm xưa đã giúp tôi có được ngày hôm nay. Tôi nhớ ơn Trà Bồng và những
ân tình bên trong mãnh đất Thiêng Liêng nầy!
Viết tại
Đà Lạt, ngày Rằm tháng Giêng năm Quý Tỵ
(24 Feb 2013)
Hứa Văn Tuấn
(B14 Lý Nam Đế, P8, Đà Lạt).
Email: tuanhuavan@gmail.com
Phone: 0913.865.043
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)