Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

SUY NGẪM 3



1. NGUỒN GỐC CỦA THIỀN


Có lần, một người cầm lên một cành hoa, không nói một lời, chỉ đưa cành hoa ra trước mặt từng người ngồi xung quanh. Lần lượt mỗi người nhìn cành hoa, rồi giảng giải về ý nghĩa của nó, tầm quan trọng của nó, mọi thứ mà nó tượng trưng.
Duy chỉ có người cuối cùng, nhìn cành hoa mà không nói một lời, chỉ mỉm cười. Người ngồi ở giữa vòng tròn cũng mỉm cười, không nói một lời, trao cành hoa cho người nọ.
Đấy là nguồn gốc của Thiền.


8. THIỀN...CU

photo
Cũng dễ hiểu thôi, nếu coi thiền là trở về cái tinh khiết của vạn vật thì hơn mười ngàn tỉ tế bào trong cơ thể ta cũng có thể thiền, nói chi đến thằng nhỏ, kẻ chuyên đi chọc trời khuấy nước.
Nghe có vẻ đơn giản nhưng đừng nghĩ rằng ai cũng có thể tu thiền. Trước hết, nếu không được là Thái tử như Tất Đạt Đa; là vua như Trần Nhân Tông, thì chí ít bạn cũng phải là người giàu có về cả vật chất và cả tâm linh. Đừng nghĩ rằng, một anh chàng nghèo kiết xác một hôm chán đời cạo trọc đầu rồi khoác lên người bộ cà sa là lập tức trở thành Thầy, có thể xoa đầu thiên hạ mà giảng pháp líu lo cho được.
Kế đến, bạn cũng phải là một người hoàn toàn khỏe mạnh, kể cả khỏe mạnh chuyện gối chăn. Đừng lầm tưởng rằng, một gã bất lực nào đấy dễ dàng hoát ngộ vì anh ta có khả năng tự do với dục. Có tu đến hết kiếp anh ta cũng chỉ là một con bệnh không hơn không kém. Đức Thích Ca,vua Trần từng gia đình vợ con đề huề cả đấy thôi; Mahama Gandhi, người được dân Ấn xem như vị Thánh từng có một đời sống tình dục thuộc hàng...thánh. Một lần, ông phải thức đêm canh để bón thuốc cho ông bố đang ốm nặng.Được đến nửa đêm, ngứa nghề chịu không nổi ông bổ nhào vào phòng vợ làm một choác đến nơi đến chốn. Khi quay ra thì hỡi ôi, ông bố thân yêu đã lạnh tanh tự lúc nào.
Bùi Giáng có lẽ là người đầu tiên phát hiện ra rằng, con cu cũng thiền: Lâu lâu nhìn lại con cu/ Mới hay trời đất rối bù tóc râu/ Không tu sao lại trọc đầu/ Không thiền sao lại bốc mùi gió sương. Thế còn các bác? Còn chờ chi nữa? Nào hãy dựng thẳng...lưng ghế, cài bàn ăn phía trước, cất cánh thôi, he he he...


3. TRÍ TUỆ TÂM LINH

Một mảnh đất không được khai phá thì sẽ đầy cỏ dại.

Một tâm trí không được rèn luyện thì sẽ đầy những ý nghĩ không mời mà đến, dẫn tới bất an.

Một tâm trí bất an khiến cho năng lượng tâm linh bị tiêu tán.

Một tâm linh bị tiêu tán năng lượng thì thể xác trở nên yếu ớt, dễ tổn hại và dẫn đến nhiều căn bệnh, lão hóa sớm và tổn thọ…
Thiền là giải pháp loại bỏ dần trạng thái bất an của tâm trí. Khi tâm trí hoàn toàn yên lặng, một lượng lớn năng lượng vũ trụ bắt đầu tràn vào hệ thống cơ thể bạn, hình thành trong bạn một “Trí tuệ tâm linh”.
Trí tuệ tâm linh càng nhiều thì sinh lực và năng lượng trong cơ thể bạn cũng càng nhiều.
Bạn hãy dành thời gian nhiều hơn cho hơi thở.




4. HIỂU BIẾT HAY KIẾN THỨC


Nếu ví kiến thức như một đại dương thì những gì con người biết được chỉ như những ốc đảo nhỏ nhoi nhô lên giữa đại dương. 


Tích trữ một mớ kiến thức cũng như cách người ta tích trữ nước vào một cái bể. Nước càng nhiều thì bể càng to. Kết quả là tà có một bể nước tù đọng hôi thối chẳng ai dám dùng vì ô nhiễm.
Cuộc sống luôn tươi mới trong từng phút giây, những kiến thức thực sự làm thay đổi chính bạn và cuộc sống còn ở phía trước. Cuộc sống cần những dòng nước mát lành róc rách tuôn chảy chứ không phải một bể nước tù đọng...
 

 
 

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

QUÁN CHIẾU HẠNH PHÚC

 

























Chúng ta thường đi tìm một cái gì bên ngoài để mang lại cho mình hạnh phúc như vật chất, nhà cửa, xe hơi, máy móc, tiện nghi, … hoặc tình cảm gia đình, thân quyến, bạn bè, người yêu, … hoặc danh vọng, địa vị, lý tưởng. Ta khát khao tìm kiếm vì tưởng mình nghèo nàn, thiếu thốn, tâm luôn phóng ra ngoài chạy theo trần cảnh. Trong kinh Pháp Hoa kể thí dụ đứa cùng tử suốt đời đi ăn xin vì không biết trong túi mình có viên ngọc quý, đến khi được người bạn nhắc tỉnh ngộ lấy ngọc ra xài liền hết đói khổ.
Bài quán chiếu dưới đây nhắc bạn nhớ lại những viên ngọc quý mà bạn đã có, chỉ cần lấy ra dùng là sẽ có hạnh phúc.

Sau đây là 7 điều quán chiếu hạnh phúc:
1/ Ta đang còn sống
2/ Ta có sức khỏe
3/ Ta có đủ sáu căn
4/ Ta có tự do
5/ Ta có tiện nghi vật chất
6/ Ta có tình thương
7/ Ta có sự hiểu biết

1/ Ta đang còn sống
      Trên đời này quý nhất là sự sống. Tất cả sinh vật từ côn trùng, sâu bọ, thú vật cho đến con người, loài nào cũng tham sống sợ chết. Giả sử bây giờ phải lựa chọn giữa trúng số độc đắc mà chết và sạt nghiệp mà sống thì bạn sẽ lựa cái nào ? Ở đời ai cũng lo đi tìm tiền của, nhưng thật ra tiền của chỉ để bảo đảm sự sống an toàn, tiện nghi. Có nhiều người giàu sang sẵn sàng chi hết tiền của để cứu lấy mạng sống. Như thế đủ thấy sự sống quý hơn tiền bạc, quý hơn gấp trăm ngàn, triệu ngàn lần. Ngay cả một tỷ đô la cũng không mua nổi mạng sống khi bị bệnh ung thư hay sida (aids). Vậy mà sáng nay mở mắt thức dậy còn sống, bạn có thấy mình hạnh phúc không?
Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sống đây. Còn sống thì còn tất cả.

2/ Ta có sức khỏe
     Sự sống quý nhất trên đời, sức khỏe quý nhất trong sự sống. Có sức khỏe không có nghĩa là phải khỏe như lực sĩ thế vận hội mà chỉ cần không đau nhức, bệnh hoạn, không có bệnh trầm kha, nan y, v.v… Ở đời mấy ai tránh khỏi bệnh tật, không bệnh này thì bệnh nọ. Bệnh nặng như ung thư hay sida phải có thuốc giảm đau như morphine mới chịu nổi, nếu không thì đau đớn rên siết như bị hành hình ở địa ngục, bệnh nhẹ như cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu cũng làm cho ta mệt mỏi, khó thở, đau nhức. Mỗi khi khỏe mạnh, không bệnh hoạn thì ta hãy mừng rỡ ý thức đó là một hạnh phúc. Có nhiều tiền mà bệnh hoạn liên miên, ăn không được, ngủ không yên, hết nằm nhà thương này đến nhà thương nọ, có tiền như vậy đâu có sướng !
Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sức khỏe đây. Còn sức khỏe thì còn làm được tất cả.

3/ Ta có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)
     Có nguời đầy đủ sức khỏe nhưng lại bị mù, điếc, hoặc câm, què, tàn tật, v.v… Những người này dù có tiền, có sức cũng đâu sung sướng gì ! Bạn có thể tưởng tượng nếu bây giờ bị mù thì bạn sẽ ra sao ? Chỉ cần nhắm mắt lại trong năm, mười phút đi tới đi lui trong nhà mình xem. Bạn có hiểu được nỗi khổ của người mù không ? Vậy mà bạn đang còn đôi mắt sáng thấy được trời xanh, mây trắng, tai nghe được chim hót, nhạc hay, mũi ngửi được mùi cơm thơm, miệng nói năng được với người thương, thân không què quặt, tâm không điên loạn. Như vậy còn đòi hỏi gì hơn? Chỉ cần mất đi một căn thôi đời bạn sẽ mất đi rất nhiều ý nghĩa.
Dù ở trong cảnh khổ nào đi nữa, nhớ lại mình còn nguyên vẹn sáu căn cũng đủ an ủi và xóa tan đi mọi niềm đau.

4/ Ta có tự do
     Tự do ở đây là không bị tù đày chứ không có nghĩa chính trị hay tôn giáo. Bởi vì theo giáo lý, tất cả chúng ta đều là tù nhân của ba cõi sáu đường. Chỉ khi nào thoát khỏi sinh tử luân hồi mới thực sự là tự do.
Hiện tại bạn có đang ở tù không? Có đang bị trói buộc, xiềng xích không ? Có ai cấm bạn đi đứng nói năng, ăn uống không? Có ai đánh đập theo dõi kiểm soát bạn không ? Bạn có biết đời sống trong tù ra sao không? Dù đó là tù ở Pháp, ở Mỹ? Có thể bạn nghĩ tù ở các xứ văn minh giàu có thì sướng hơn ở xứ nghèo chăng? Ở Mỹ nhân viên cai tù không hành hạ tù nhân nhưng chính những người tù đánh đập, áp bức, hiếp dâm lẫn nhau rất dã man.
Ngay bây giờ nhìn lại, bạn có thấy mình được tự do đi đứng nói năng không ? Nhớ ai thì lên xe rồ máy đi thăm, thèm ăn món gì thì ra chợ mua hoặc đi nhà hàng, v.v… Có biết bao người đang bị tù đày khổ sở, trong đầu chỉ ao ước được tự do như bạn là họ sung sướng lắm. Vậy mà đang sống tự do bạn có cảm thấy hạnh phúc không? Nếu không thì bạn hãy ý thức và nhớ lại đi, đừng để khi mất tự do rồi mới mơ ước thì quá muộn.

5/ Ta có tiện nghi vật chất
     Tiện nghi vật chất không hẳn là nhà cao cửa rộng, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa chén, v.v… Tiện nghi ở đây là những thứ căn bản mà phần đông chúng ta đều có, đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở che mưa nắng, không phải đi ăn xin, ngủ đầu đường xó chợ. Nhiều người ở Việt Nam vẫn tưởng rằng sống ở Pháp hay Mỹ chắc sướng lắm vì đầy đủ tiện nghi, họ đâu biết là ở đâu cũng có kẻ giàu người nghèo. Ngay tại Paris, thủ đô ánh sáng, hàng ngày vẫn có nhiều người ăn xin vô gia cư, tiếng pháp gọi là SDF (sans domicile fixe), ngửa tay đi xin tiền trong xe điện ngầm (métro), tối đến họ chui vào những gầm cầu thang để ngủ.;như ở Mỹ cũng có Homeless vậy. Nhìn lên chẳng bằng ai, nhưng nhìn xuống thì ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người. Hãy nhìn lại hoàn cảnh của mình, bạn có đói đến nỗi thiếu ăn không ? Có nghèo đến nỗi không còn mảnh vải che thân ? Nếu chưa đến nỗi như vậy thì bạn hãy xem mình đầy đủ. Khi tâm biết đủ (tri túc) thì bao nhiêu cũng đủ, khi tâm tham muốn đòi hỏi thì bao nhiêu cũng không đủ. Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc vì không thấy thiếu thốn, người tham lam keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo vì không bao giờ thấy đủ.

6/ Ta có tình thương
     Nhiều người khổ sở vì cảm thấy cô đơn, không có ai thương mình hết. Không ai thương mình bởi vì mình đâu có thương ai. Khi trong lòng ta tràn đầy tình thương thì tự nhiên nó tỏa ra và mọi người sẽ tìm đến. Giống như mùa xuân hoa nở thơm ngát thì tự động ong bướm bay tới xung quanh. Ai cũng có một trái tim, tiếng Hán là tâm, bản chất của tâm (tim) là thương yêu. Ta có dư tình thương cho chính mình và cho kẻ khác. Chỉ cần nhớ lại mình có trái tim thương yêu và đem ra xử dụng. Nếu chưa nhớ thì bạn hãy thực tập phép quán từ bi ở phần trước.
Hiện tại bạn có ai là người thân thương không? Có cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè không? Có ai đang thương và lo lắng cho bạn không? Có tình thương, biết thương và được thương là một hạnh phúc lớn nhất trên cõi đời này.

7/ Ta có sự hiểu biết
     Hiểu biết ở đây là hiểu biết đạo lý chứ không phải kiến thức bằng cấp. Không kể người khùng điên mất trí, hoặc bị bệnh tâm thần mà ngay cả những người bình thường cũng chưa chắc có sự hiểu biết về nhân quả và đạo đức. Đầu óc ta còn sáng suốt, không điên khùng mất trí, lại gặp được Phật pháp, học hiểu giáo lý giải thoát, đó là một duyên lành hy hữu trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được.
Nếu quán chiếu những điều trên chưa đủ để cho bạn hạnh phúc thì bạn cần phải “hạ sơn” đi vào cuộc đời để tiếp xúc với người sắp chết, người bệnh để thấy họ khổ ra sao, tiếp xúc với người tàn tật, người tù, người ăn xin, người cô đơn, người ngu cố chấp thì may ra nó sẽ giúp bạn tỉnh ngộ thấy mình hạnh phúc.


3 điều Thương Ghét
1) Ða số người thường suốt ngày sống trong sự thương ghét. Người nào vừa ý, hợp ý mình thì thương, kẻ nào trái ý mình thì ghét.
2) Khi bắt đầu biết đạo thì tập tánh bình đẳng, không thương người này ghét người kia.
3) Sau khi hiểu đạo thì chỉ còn tình thương. Thấy ai cũng là bà con thân thuộc của mình từ nhiều đời, và thấy ai cũng đáng thương hết.

Sưu tầm.

          

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2013

CÕI YÊU THƯƠNG

Duy Tuệ
 




Tôi hỏi các bạn điều này:
Tình yêu của con người có phải là điều thiêng liêng ?
Sức mạnh của con người mà ta có thể nhận biết là gì ?
Quyền lực của tiền bạc ?
Quyền lực của chức vị ?
Quyền lực của tri thức ?
Quyền lực trong tôn giáo ?
Quyền lực của chính trị và quân sự ?

Những thứ ấy có thể mạnh, nhưng không phải là mạnh nhất.
Tình yêu của con người là thiêng liêng và mạnh nhất.

Nhưng tại sao nhiều người chối bỏ nó, nhất là ở những xứ sở tôn vinh tiền ?
Tại sao người ta lấy tiền để đo giá trị con người ?
Bởi cũng tại trí óc con người hoạt động theo hướng thỏa mãn nhiều ham muốn riêng tư.
Nhưng từ khi con người xuất hiện đến nay mấy triệu năm rồi,
Có bằng chứng nào kết luận con người đã thỏa mãn lòng ham muốn của mình ?
Người ta dùng trí óc tìm kiếm các nguyên liệu bên ngoài để thỏa mãn bên trong tâm hồn.
Điều ấy đã muôn đời không được.
Thế nhưng tri thức con người cứ chảy mãi một dòng như vậy.
Nếu ai đi ngược dòng tri thức này giống như người từ cõi xa xôi nào đến !

Tôi không chê trí tuệ.
Nhưng từ trong sâu thẳm của cõi thanh tịnh,
Tôi nhận biết rằng con tim có năng lượng diệu kỳ:
Năng lượng của tình yêu chân thành làm nhũn mềm tất cả
Năng lượng của tình yêu chân thành thường cho ra những trí tuệ siêu phàm.
Thứ trí tuệ từ con tim là trí tuệ của người chủ vĩ đại.
Trí tuệ ấy có sức mạnh thần diệu.
Có những phế nhân cô độc,
Lại sống ở phần đất chỉ biết có tiền là trên hết,
Đa số họ khổ đau từ thân thể cho đến tận đáy lòng.

Nhưng may mắn thay cũng có người sống với trái tim
yêu thương nhân loại và cuộc đời.
Nên tâm hồn họ sung mãn, năng lượng sống an nhàn không nhiều day dứt.
Họ cũng nhận ra tình yêu trong họ,
Và biết đem tình yêu ấy cư xử với những gì xảy ra với họ,
Cư xử một cách hồn nhiên không có trí của óc tác động.
Họ què quặt thân thể mà lại giàu lòng yêu thương.
Do vậy mà họ đã đùm bọc được nhiều người thân thể vẹn toàn !

Kỳ lạ thay sự giàu có của tâm hồn.
Mãi mãi đẹp và mãi mãi trường tồn trên hành tình này.
Dù mai này học vĩnh biệt nó để về một nơi vô định.
Cõi vô định ấy là cõi của lòng yêu thương bất tử.

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

Trịnh Công Sơn chờ nhìn quê hương sáng chói

Kỷ niệm 12 năm ngày ông rời cõi tạm, định viết một cái gì đó để tưởng niệm người nhạc sĩ mà mình ngưỡng mộ thì đọc được bài này hay quá bèn đưa lên đây "thay lời muốn nói". Không  am hiểu về Trịnh Công Sơn, về nhạc Trịnh thì không thể viết được như thế. Cái tài của tác giả còn ở chổ viết về "Ca khúc da vàng" của một thời đã xa nhưng mang đầy hơi thở của xã hội Việt Nam hiện tại. Vâng, không riêng gì Trịnh Công Sơn, mỗi người dân Việt từ xưa đến nay vẫn luôn đau đáu chờ nhìn quê hương sáng chói...
************************************************************
Công chúng Việt Nam say mê tình ca Trịnh Công Sơn. Nhưng có một dòng nhạc bất tử của ông viết về quê hương trong những năm chiến tranh được in thành tập “Ca khúc da vàng”, “Kinh Việt Nam” chưa được giới trẻ biết đến nhiều. Với những ca khúc ấy, Trịnh Công Sơn dành trọn trái tim mình cho đồng bào, cho đất mẹ.
Ám ảnh chiến tranh và khát vọng hòa bình

Ngay cái tên gọi “da vàng” đã thể hiện cảm xúc sâu sắc nhất về nòi giống dân tộc mà khó có tên gọi nào khác thay thế được. Sống trong các đô thị miền Nam đầy khói lửa và sự ngột ngạt của không khí chiến tranh, chứng kiến những mất mát, đau thương của từng con người, từng gia đình, người nghệ sĩ ấy đã hạ bút viết về một niềm mơ ước chứa chan hy vọng “Chờ nhìn quê hương sáng chói” là bài ca mang nỗi niềm đó: “Chờ hòa bình đến, chờ tiếng bom im. Chờ bước đi trên những con đường không chông mìn”.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh

Sự chờ đợi không của riêng ai mà của người lính hai bên chiến tuyến, của những người mẹ Việt Nam ở hai miền: “Nơi đây tôi chờ, nơi kia anh chờ. Trong căn nhà nhỏ mẹ cũng ngồi chờ. Anh lính ngồi chờ trên đồi hoang vu”. Và trong nỗi chờ mong rất dài, khắc khoải một điều lớn lao hơn cả hòa bình, đó là xóa đi lòng hận thù, lấp đi những khoảng cách trong tim con người. Trịnh Công Sơn có những tiên cảm đầy lo lắng về sự hàn gắn tình thương sau cuộc chiến. Trong ca khúc này, hai lần ông lên tiếng: “Chờ cho lòng căm thù đến lúc chìm sâu” và “Chờ tim người không còn nuôi những hờn căm”.

Trịnh Công Sơn mang nỗi ám ảnh dữ dội về cái chết. Trong các bản tình ca, nhiều lần ông nói về những cuộc “khăn gói đi xa”, “có một ngày tôi đi” hay “một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời”. Có thể đó là những suy tư triết học của người nghệ sĩ, nhưng cũng có thể do ông chứng kiến quá nhiều cái chết. Cho nên trong “Ca khúc da vàng”, không phải là cái chết mộng mị và nỗi đau siêu hình, mà là cái chết trần gian với cơn đau xác thịt: “Hàng vạn chuyến xe Claymore, lựu đạn. Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành. Từng vùng thịt xương có mẹ có em” (Đại bác ru đêm), “Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè. Ngựa hồng đã mỏi vó, chết trên đồi quê hương” (Xin mặt trời ngủ yên), “Người con gái chợt ôm tim mình. Trên da thơm vết máu loang dần” (Người con gái Việt Nam da vàng).

Ông hoảng loạn, sợ hãi và đau đớn vì cái chết của bạn bè, của những đứa bé, của những cô gái, những người mẹ. Ông sử dụng bút pháp tả thực để viết về những nạn nhân vô tội của cuộc chiến. Trịnh Công Sơn sáng tác như một người viết nhật ký về cái chết, từ hoảng loạn, ông bình tĩnh ghi lại tỉ mỉ từng cái chết, từng kiểu chết. Sự liệt kê tưởng như rất lạnh lùng của ông thực ra là bản cáo trạng chiến tranh đầy bi ai khiến lòng người tê tái, kinh sợ. Xác người trôi trên sông, phơi trên ruộng đồng, trên những nóc nhà. Xác người dưới hố hầm, xác người già cạnh em bé, xác đứa con thơ trên tay mẹ. Có những người chết cong queo, chết dưới gầm cầu, chết mình không manh áo hoặc chết cháy như than, có người chết hai lần thịt da nát tan. Người chết tang thương, còn người sống thì sao: “Người già co ro buồn nghe tiếng nổ. Em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi” (Người già và em bé).

Những năm trước 1975, “Ca khúc da vàng” của Trịnh Công Sơn qua tiếng hát của Khánh Ly như một lời kêu gọi khẩn thiết về hòa bình. Những ca khúc đó còn là sự ủi an, chia sẻ với những phận người vô tội. Khát vọng hòa bình là một mạch chảy trong “Ca khúc da vàng”. Chỉ riêng bài “Tôi sẽ đi thăm”, Trịnh Công Sơn mang niềm hân hoan về sự thống nhất: “Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi không ngừng. Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam, tôi đi chung cuộc mừng. Và mong sẽ quên, chuyện non nước mình”. Quên chuyện chiến tranh để vun trồng cây hòa bình: “Ngày lên cùng niềm tin. Bàn tay ta quyết lo vun trồng. Hoà bình như lúa thơm nuôi dân mình” (Cánh đồng hòa bình).

Cùng với phong trào sinh viên đấu tranh, ca khúc của Trịnh Công Sơn đi vào công chúng, tạo thành làn sóng phản chiến mạnh mẽ đến nỗi chính quyền Sài Gòn coi ông như một phần tử nguy hiểm. Trong bút ký “Như con sông từ nguồn ra biển”, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường ghi lại chi tiết ông nhận được bài báo đưa từ Sài Gòn lên rừng, trong đó có mẩu đối thoại giữa nhân vật Giao (Trịnh Công Sơn) với cảnh sát:

- Tại sao anh lại làm bài hát ca ngợi hòa bình vào lúc này?

- Ủa, thế chẳng lẽ ông lại bảo tôi ca ngợi chiến tranh?

- Nhưng anh có biết rằng lúc này, ai nói hòa bình là trung lập, trung lập là cộng sản không? Tôi nhắc lại cho anh rõ: Sắc luật ngày 7.5.1965 của chính phủ đã đặt hòa bình ra ngoài vòng pháp luật.

- Chính vì các ông đặt hòa bình ra ngoài vòng pháp luật của các ông, nên nó phải đi vào trong tiếng hát của chúng tôi.

Lời nói đó như một cam kết của đời mình, với đất nước, và Trịnh Công Sơn đã thực hiện với tất cả trách nhiệm công dân cùng với tấm lòng và tài năng của một nghệ sĩ.

Mẹ dạy cho con tiếng nói quê hương


Công dân - nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đối diện với một hiện thực chiến tranh không thể phủ định và bắt buộc phải có sự lựa chọn. Từng có diễn đàn tranh luận về một Trịnh Công Sơn phi chính trị, ông trốn lính chế độ cũ nhưng cũng không nhảy núi hay hoạt động thành như bạn bè cùng thời. Nhưng tại sao phải bắt ông cầm súng? Người nghệ sĩ có sự rung cảm, có thái độ sống và hành xử với thời đại tùy theo nhận thức, nhân cách và tầm nhìn của cá nhân. Ông chán ghét chiến tranh đến mức chỉ xin làm mây để bay ra khỏi cuộc đời, cho đến khi nào bình yên thì quay trở lại trần thế xin làm người: “Xin cho tôi làm kiếp của mây. Xin cho tôi ra khỏi cuộc đời. Để bao giờ trời đất yên vui. Xin cho tôi xin lại cuộc đời” (Xin cho tôi).

Nói thế thôi, nhưng ông không lảng tránh mà dấn thân vào tâm điểm nóng bỏng của thời cuộc với một niềm xác tín mạnh mẽ, không súng đạn mà cất tiếng hát. Cầm súng và siết cò, dù phi nghĩa hay chính nghĩa thì giới hạn cuối cùng vẫn nằm trong phạm vi và tầm vóc của một cuộc chiến. Còn phản đối chiến tranh và kêu gọi hòa bình là tầm vóc và không gian nhân loại, đó cũng là mục đích mà cộng đồng thế giới hướng tới. Chính vì vậy nên các ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn không chỉ chiếm lĩnh trái tim của công chúng miền Nam lúc đó, mà còn vươn tới nhiều quốc gia trên thế giới, không phải ở giai đoạn chiến tranh trước 1975, mà cho đến hôm nay.

Hành động phản đối chiến tranh của Trịnh Công Sơn không phải là tung nắm đấm lên không, mà níu con người đến với nhau, đề cao giá trị của tình yêu quê hương đất nước và tinh thần dân tộc.“Ca khúc da vàng” chảy vào trong đời sống như những dòng sữa ca dao ngọt ngào về lòng yêu nước, mặc dù Trịnh Công Sơn chưa bao giờ lên gân bằng một loại khẩu hiệu to tát. Quê hương Việt Nam và người mẹ là hai hình tượng chủ đạo được ông xây dựng trong các ca khúc để gợi mở tình yêu trong trái tim mọi người. Bao nhiêu người mẹ khổ đau vì mất con, bao nhiêu đứa trẻ bơ vơ vì mất cha, mảnh đất Việt Nam ngập chìm trong bom đạn dữ dằn, bao nhiêu đôi lứa bị chia ly, cho nên lời ca như tiếng kinh cầu: “Cho tôi xin tay mẹ nồng nàn. Cho tôi nghe chân trẻ rộn ràng. Cho quê hương giấc ngủ thật hiền. Rồi từ đó tôi yêu em” (Xin cho tôi).

Ông nhắc nhớ về một quê hương còn trầm luân, dân còn sống trong đau khổ: “Giọt nước mắt thương đất, đất cằn cỗi bao năm. Giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong” (Nước mắt cho quê hương). Giọt nước mắt của ông ngày ấy, đến nay vẫn còn nóng bỏng tính thời sự.

Và với ông, tấm lòng của người mẹ Việt Nam chính là nơi để các con tìm về nương náu: “Mẹ ngồi ru con tiếng hát lênh đênh. Mẹ ngồi ru con ru mây vào hồn. Mẹ dạy cho con tiếng nói quê hương” (Ca dao mẹ). Mẹ còn dạy thế này đây: “Dạy cho con tiếng nói thật thà, mẹ mong con chớ quên màu da, con chớ quên màu da, nước Việt xưa” (Gia tài của mẹ). Trịnh Công Sơn rất sợ sự dối trá, ông từng cảnh báo có “một bọn lai căng, một lũ bội tình”, dẫn đến một đất nước “u mê ngàn năm”, cho nên ông nhắc lại thêm một lần hai chữ thật thà: “Đường Việt Nam hôm nay có bước chân tự do. Người Việt ta hôm nay sống với nhau thật thà” (Đồng dao hòa bình).

***

“Chờ lúa thơm lên dưới những bàn tay dân mình. Chờ lòng yêu thương đất nước quyết đi xây thanh bình. Chờ trống dồn tin mừng khắp phố làng ta. Chờ nghe từ đất dậy tiếng ca tự do”. Trịnh Công Sơn vẫn còn ngồi đó, ôm cây đàn guitare hát bài “Chờ nhìn quê hương sáng chói”.






LÊ THANH PHONG

(TPHCM, kỷ niệm 12 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn).
http://laodong.com.vn/Van-hoa/Trinh-Cong-Son-cho-nhin-que-huong-sang-choi/108330.bld

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Chim thế mới là chim chứ

Nếu như trên thế giới có biết bao nhiêu loài hoa đẹp và quyến rũ đủ sức làm rung động và mê đắm lòng người thì cũng có ngần ấy sự phong phú đa dạng sắc màu rực rỡ của những loài lông vũ.
Mỗi loài chim đều sở hữu những đặc trưng riêng về màu sắc bộ lông cũng như tiếng hót lãnh lót mà tạo hóa đã ban cho chúng.
Cùng chiêm ngưỡng những cuộc đọ sắc của các chú chim xinh xắn qua tranh minh họa chân dung về thế giới loài chim hoang dã Australia của họa sĩ Eric Shepherd (người Anh)