Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

MƯỜI NĂM TẮM GỘI...




1. 

Tắm à?
Ừ thì tắm, sợ chóa giề, lên đường đi đánh giặc tàu tớ cũng còn chả sợ nữa là tắm. Vợ chồng mí nhau thì quan tâm nhau cũng được, cơ dưng mà đến mức giục nhau đi tắm là tớ cực lực phản đối đấy nhá, vi phạm nhân quyền quá đáng thể.
“Mười lăm tuổi hãy còn con nít
Đến năm mươi cút kít đã về già
Thế nên vòng thưởng nguyệt chơi hoa
Ngồi ngẫm lại ba mươi năm đã kiệt

Thế mà còn
Đi học đi hiếc
Đi thi đi thiếc
Làm quan làm kiếc…”

Ấy là mấy câu thơ trào lộng của Nguyễn Công Trứ than thở về cái sự nhiêu khê của đời người, mềnh là mềnh còn phải thêm câu này “Đi tắm đi tiếc”. Đời người vốn ngắn chẳng tày gang, thế mà bao nhiêu là thứ hằm bà lằng vô bổ làm mất hết cả thời gian sống, thời gian vui chơi thưởng thức hoa nguyệt thanh tao ở đời. Không biết từ khi nào, tắm gội bỗng nhiên trở nên không thể thiếu với con người, với ai không biết, riêng với mềnh thì hoạt động này chả có gì hay ho, ngoài việc nó chiếm một khoảng thời gian kha khá của đời người.

Thời con nít, tắm đồng nghĩa với việc nhảy ùm xuống sông Gianh bơi lội nghịch nước, chán chê thì lên bờ. Lên rồi đi dọc sông thấy có đám nào hay hay lại nhảy xuống nước. Cứ thế, có ngày phải cả chục lần “tắm” như thế, bợt hết cả người, sạch sẽ đến thế là cùng, hi hi. Tất nhiên cũng có ngày mãi chơi tới tối, mồ hôi mồ kê nhễ nhại nhưng quên cả tắm vẫn leo lên giường ngủ như thường. Nhớ có lần đêm chui bụi lủi bờ chơi trò đánh trận giả, mềnh lãnh trọn một bãi cứt chó rồi cũng quên luôn. Nữa đêm bị mạ phát hiện ra mùi thum thủm bèn dựng cổ mềnh dậy nện một trận, bắt tắm rửa thay đồ mới cho ngủ tiếp.

Đó là chuyện của mùa hè, còn vào mùa đông thì tắm là một động từ xa lạ với bọn con nít nhà quê dưới cái rét cắt da cắt thịt của quê nghèo miền Trung. Có khi trốn tránh qua được mùa đông nhưng cũng có khi bị mạ nấu nước rồi cưỡng bức tắm, đó quả là những lần cực hình không kém bị…tra tấn. Nhà quê thời ấy làm gì có nhà tắm, đến cái nhà ở còn hở toang hoác gió lùa nữa là. Tuy nhiên cũng có một lần mềnh tắm gội trong tự giác cao độ. Ấy là vào dịp gần tết khi mạ ra điều kiện không tắm không cho mặc đồ mới. Ba mươi tết mình bưng nồi nước nóng, xách cái đòn ra ngồi giữa sân nghiến răng thực hiện cái nghi lễ thổ tả ngay trước cái nhìn mãn nguyện của mạ, bụng thầm nghĩ thà làm cây đuốc sống như bạn Lê Văn Tám lao vào đốt kho xăng giặc có khi còn sướng hơn, hi hi…

Thử gõ cụm từ “Tắm là cái gì”, trong 0,44 giây anh Gu gồ cho tới 834000 kết quả. Ua chầu, té ra tha nhân cũng còn lúng túng chuyện tắm táp lắm. Tiện thể, mở luôn từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1992 trang 879 định nghĩa động từ tắm thế này: “Giội nước lên người hoặc ngâm mình trong nước cho sạch sẽ, mát mẻ hoặc để chữa bệnh” chấm hết. Chời chời! Quả là ngớ ngẩn, hi hi…

Mà thôi, mệt dồi, không viết nữa, tớ đi tắm phát cho sạch sẽ, mát mẻ cái đã he he…

2.




Mềnh trải qua trọn đời sinh viên trong thời bao cấp. Khỏi phải nói làm anh sinh viên “ăn như sư ở như phạm” thời ấy khổ cực đến như thế nào. Nhưng thôi, kể lể dài dòng làm gì, tập trung vào chuyện tắm gội cái đã.
 
Đại học Sư phạm Vinh có một cái bể tắm ngay sát quốc lộ dùng cho sinh viên nam cư xá. Cũng có mấy cái phòng được gọi là phòng tắm nhưng chả cái nào còn cửa. Ban đêm đói bụng, bọn sinh viên cư xá bẻ hết cửa làm củi nấu ăn rồi, thành thử vào “phòng tắm” cũng như ở ngoài trời.  Đại khái là chiều chiều khách đi trên quốc lộ thường chứng kiến cảnh một lũ sinh viên chúng tôi tồng ngồng đứng bu quanh bể nước thi nhau múc nước dội, lại còn chuyện trò cười hát rất mực náo nhiệt, hi hi…

Còn xà phòng tắm à? Chuyện xa xỉ. Hàng tháng sinh viên bọn mềnh được bao cấp một cục xà phòng 72% chủ yếu để giặt, không ai tắm bằng cái thứ xà phòng toàn xút ấy. Cũng có vài đứa đào hoa dính vòng bồ bịch gái gú nghiến răng mua cục xà phòng thơm bé bằng cái kẹo cất tận đáy va li, nhưng cũng chỉ dùng khi có hẹn hò và cũng chỉ xoa vào vài khu vực cần thiết, he he… 

Thời sinh viên ở Huế mình có đọc bác Nguyễn Trọng Tạo, hát bác í còn sớm hơn, khi còn là học sinh cấp 3 với bài “Làng Quan họ quê tôi”. Gần đây thì mình rất mê “Khúc hát sông quê”, bài hát bác Tạo phổ thơ Lê Huy Mậu, quá hay, quá tài.
Mà nói chung thì khen cũng bằng thừa, bác í vừa là nhà thơ, nhà báo, họa sĩ, nhạc sĩ, “nhà” nào cũng giỏi. Nhưng, nói thật, mềnh ngưỡng mộ  bác Tạo nhất là thành tích…lười tắm. Cái tên Nguyễn Trọng Tạo trở nên thật khó quên đối với mềnh khi đọc bọ Lập kể về đại ca “Tạo Bẩn”. Biết là nhà văn nhà veo thì hay nói quá, nhưng mềnh dứt khoát tin vào những gì bọ kể. Có sao đâu, người ta sẵn sàng tin vài điều đôi khi không thật lắm về người mình yêu quý. Ai nỡ lòng nào bắt con chiên đừng tin Chúa Jesus sống lại, hi hi…

Nói có sách mách có chứng, thôi thì cứ trích nguyên một đoạn về đại ca Nguyễn Trọng Tạo hỗn danh Tạo Bẩn trong tập “Bạn văn” của bọ Lập.
Anh Quán thấy cái áo anh Tạo đã sẫm màu thời gian, nói tắm đi cái mi. Anh Tạo nằm dài  ra sàn, nói để em nghĩ xem tắm có phải thuộc phàm trù văn hoá không đã.
Một hôm vừa sáng bảnh mắt anh Tạo đã đến nhà mình, nằm dài ra sàn kêu chán. Mình hỏi sao. Anh nói mình đi nhậu suốt ngày, nghĩ thương vợ, tối qua ở nhà, quyết định rửa bộ đồ nghề hầu vợ phát thì nó lại hành kinh. Rửa ráy thế có phí không.
Mình kể cho chị Kim Quí (vợ đạo diễn Xuân Đàm) nghe. Chị dài môi,  nói chà,  ông Tạo mà rửa bộ đồ nghề thì trời sập cái đoàng. Tao mà yêu ông Tạo thì tao phải lấy đũa gắp chim ông chứ chẳng dám cầm.
Mình có viết chuyện này ở Say 4, cô X. cười ngất. Hôm anh Tạo vào Vũng Tàu, nhắn tin cho cô X.: “Anh đang một mình ở bờ biển, buồn lắm, ra với anh đi.” Cô X. reply ngay lập tức: “Dạ dạ…Em ra liền nè. Em có phải mang theo đũa không anh?”.

 Chuyện lười tắm của bác Tạo còn hay hơn cả…bài thơ hay nhất, ngưỡng mộ bác í quá cơ. Mềnh đưa chuyện cho bà xã đọc hòng để mụ í hiểu ra rằng so mí bác Tạo, “thành tích” của mềnh chỉ đáng liệt vào hạng…muỗi. Ngồi kiểm kê lại các cuộc hẹn hò với “đối tác” của mềnh kể từ khi biết đu đưa với giống cái đến nay, chưa thấy ả nào bới theo đũa cả. May thế, he he…

3.



“Anh không muốn mất sông
Sông đã quành hướng khác
Anh không muốn mất em
Em đã về xa lắc

Có bầu trời phụ bạc
Đã thay rồi màu mây
Có nỗi buồn ngày trước
Đã reo cười đâu đây

Em dòng nước đang đầy
Đã vơi ngày nắng hạn
Anh con thuyền mắc cạn
Trong lưới tình mắt em.”

Ấy là bài thơ “Anh không muốn mất em” của bác Nguyễn Trọng Tạo. Thì ra bác í lười tắm cũng có lí do đấy chứ. Dù rất muốn “úp mặt vào sông quê” nhưng “Sông đã quành hướng khác”; ngay cả “Em dòng nước đang đầy” rồi cũng “Đã vơi ngày nắng hạn”, thế thì lấy đâu ra nước mà tắm cơ chứ. Kết quả là bác í mắc cạn, nhưng là mắc cạn khôn thế, tận “Trong lưới tình mắt em” hẳn hoi nhá. Nói thật, lười tắm mà làm thơ hay được thế thì mềnh cũng xin xung phong lười cho đến tận kiếp sau, hi hi…

Mà cũng lạ, chẳng riêng gì bác Tạo, bao nhiêu bậc tài hoa khác ở đời thậm chí còn là sư phụ bác Tạo về cái khoản lười cọ rửa. Lại trích bọ Lập: “Thực ra anh Tạo lười tắm không bằng cái móng tay anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) và anh Sơn (Trịnh Công Sơn), nói chung mấy ông hay rượu đều lười tắm cả…Anh Quán vẫn hay trêu anh Tạo, anh Sơn, anh Tường, nói ai cũng như mấy ông này thì khỏi lo sông Hương hết nước. Anh có câu trêu anh Tường: Nếu không tát cạn biển đông/ Thì cha Hoàng Phủ đừng hòng tắm cho. Lại có câu trêu anh Sơn: Bao giờ sông cạn đá mòn/ Công Sơn mới rửa hai hòn cho em”.

Mềnh không đồng ý lắm khi bọ Lập tổng kết “mấy ông hay rượu đều lười tắm cả”, có lẽ nên thêm vào “và rất tài hoa” nữa mới được. Phải nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Trịnh Công Sơn là hai thần tượng của mềnh về văn chương và âm nhạc từ thuở sinh viên. Thi thoảng mềnh lại phải chìm đắm vào thế giới bút kí bác Tường để trải nghiệm sự uyên bác hào hoa của văn chương; ngâm nga nhạc Trịnh mà tìm sự bình an và thấm thía rằng “chỉ có tình yêu mới cứu chuộc được thân phận trên cây thập giá đời”.

Cơ dưng mà, khổ chưa, các thần tượng của tôi ơi, sao quý vị lười tắm thế, sao quý vị đáng yêu giống…mềnh thế, he he. Có sự liên quan nào giữa lười tắm và tài hoa không nhỉ, không chừng phải làm cái luận án tiến sĩ về đề tài này mới được, hi hi…

Mềnh có đọc trong đâu đấy về một tôn giáo ở Ấn Độ, hình như Jaina giáo thì phải. Họ thờ thần lửa nên rất ít khi tiếp xúc với nước. Ba tháng các tín đồ Jaina giáo mới tắm một lần và mỗi lần cũng chỉ dùng một bình nước nhỏ. Không hiểu ở xứ sở Cà ri nắng nóng như nung, họ sẽ xoay xở thế nào sau mỗi ba tháng với chừng ấy nước. Ngưỡng mộ các đại ca quá đi mất, có khi phải khăn gói sang Tây trúc gia nhập Jaina giáo thôi, hi hi...

Chưa hết, Mahavira, nhà sáng lập Jaina giáo cũng có một cuộc đời kì lạ. Xuất thân là hoàng tử của bộ lạc Lichavi, vương quốc Kosala sống cùng thời với Thích Ca Mâu Ni. Năm 19 tuổi, ông lập gia đình và có một con gái. Tới năm 30 tuổi, Ngài rời gia đình, từ bỏ vợ con, dấn thân vào cuộc sống tu hành. Suốt 12 năm trời, Mahavira sống như một nhà tu khổ hạnh, khắc kỷ. Thời gian đầu, Ngài chỉ khoác trên mình một chiếc áo khoác duy nhất và không hề thay đổi. Sau 13 tháng, Ngài bỏ luôn chiếc áo và ở trần truồng cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Danh hiệu Mahavira có nghĩa là Ðại Anh hùng, một biệt danh dùng để tôn vinh cá biệt vị tổ sư này. Kết thúc 30 năm rao giảng, xây dựng và phát triển Jaina giáo, Mahavira từ trần sau một cuộc tuyệt thực cho tới chết tại Para, nơi gần Patna ngày nay, thọ 72 tuổi. Và nơi ấy từ đó trở thành thánh địa hành hương của mọi tín đồ Jaina giáo. Cho tới thời điểm nhập diệt, Ðức Mahavira có rất đông đệ tử, khoảng 50.000 người trong đó ba phần tư là phụ nữ.

Nể chưa, ai ngờ một vị tu hành gần như không dan díu với nước, thậm chí khỏa thân, lại có đông đệ tử đến thế, mà chủ yếu là phe tóc dài nữa mới tài. Mềnh chỉ cần có số đệ tử bằng một phần trăm ông Ðại Anh hùng thôi là đủ no cơm ấm cật, cơm no bò cưỡi quanh năm dồi, he he…

Hóa ra giá trị con người không chỉ phụ thuộc vào sự sạch sẽ thân xác. Có một thứ sạch sẽ còn cao quý hơn nhiều, ấy là “sạch sẽ tâm hồn”. Làm sạch thân xác thì chỉ cần mười phút, nhưng để có được tâm trong trí sáng như trăng rằm thì phải mất mười năm tắm gội. 

Mà có khi phải mất hết cả đời cũng chưa chắc làm được ấy chứ, bác Trịnh nhỉ.

Dalat, 2-2015

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

NÚI LẶNG

                                                                                
                                                                                                                  
     Đoàn gồm hơn tám mươi người từ tuổi học trò trung học đến cụ ông 74 khởi hành lúc 5 giờ sáng dưới chân núi Bạch Mã. Gậy cầm tay, ba lô trên vai cùng lích kích những nồi niêu soong chảo, nét mặt háo hức tươi vui, thứ tâm trạng chỉ có ở những người xác định rõ mục đích và từ lâu chờ đợi chuyến đi của mình. Đoàn người bước hàng hai hướng về đỉnh núi xa mờ tít tắp trong cái oi nồng của mùa hạ Huế. Háo hức náo nhiệt là thế nhưng mọi người hành quân trong trật tự, được tổ chức chặt chẽ cứ như một đoàn quân chuyên nghiệp. Mà có khi còn đáng ca ngợi hơn cả một đoàn quân chuyên nghiệp, vì họ bao gồm đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi ngành nghề chứ làm gì có được sự thống nhất như một đoàn chiến binh. Đủ cả, học sinh, nhà kinh doanh, giáo viên, công chức nhà nước..., họ cũng đến từ khắp mọi nơi, từ đồng bằng miền Trung cho đến Tây Nguyên heo hút.

      Không ai khác, "cụ ông" là võ sư Nguyễn Văn Dũng, sư phụ của mình, còn đoàn quân đa phương trời đa tính cách kia chính là  "đoàn võ sinh Karatedo của Nghĩa Dũng Đường trong cuộc hành hương thường kì của võ đường lên Bạch Mã với mục đích hàm dưỡng nhân cách và lí tưởng hành thế" (Hoàng Phủ Ngọc Tường).

      Sau nhiều lần lỗi hẹn, lần này mình có mặt trong cuộc "hành hương" cùng thầy như một sự sắp đặt không thể khác. Chuẩn bị cho cuộc chinh phục gần hai mươi cây số leo dốc, nghe lời thầy mình đã tranh thủ luyện tập trước, kể cả tập sự leo núi Lang Biang. Tưởng chừng đã kỹ lưỡng lắm, mình không thể ngờ được chuyến đi lại "kinh khủng" đến thế, nhiều lúc mệt muốn đứt hơi, chỉ muốn nằm lăn ra bên vệ đường. Người ta bảo hạnh phúc chỉ thực sự ngọt ngào sau khi đã nếm trải những nhọc nhằn vất vả ở đời, nếu thế thì dứt khoát những hạnh phúc mà mình được trải qua trong chuyến đi phải ngọt ngào lắm lắm.

       Phàm là người thầy, dù là thầy văn, thầy võ hay thầy tu, mục đích chính hẳn là giáo dục, rèn luyện, là truyền trao cho con người mà nhất thế hệ trẻ một nhân cách, một bản lĩnh sống để họ vững vàng bước vào đời. Về phương diện này thì thầy mình, nhà giáo, võ sư Nguyễn Văn Dũng đã đạt được mục đích một cách mỹ mãn. Sẽ là thừa và không cần thiết nếu mình kể ra đây những thành quả giáo dục của thầy. Đã có quá nhiều những bài viết, phóng sự truyền hình, những bài phỏng vấn từ cấp địa phương tới trung ương về những dấu ấn giáo dục mà thầy đã để lại. Sống động hơn, có lẽ chính những đứa học trò, đệ tử của thầy khắp bốn phương trời, cả trong và ngoài nước đang từng ngày hoàn thiện mình theo mục đích, tôn chỉ mà thầy truyền dạy là những bằng chứng thuyết phục nhất. Người ta bảo cha nào con nấy, thầy nào trò nấy quả là không sai.

     Nếu ai đó còn có chút nghi ngại thì đơn giản nhất là xin mời bạn hãy cùng thầy trò Nghĩa Dũng Đường chúng tôi tham gia một chuyến đi Bạch Mã. Trăm nghe không bằng một thấy, sẽ không có lời nói nào thuyết phục cho bằng những gì bạn được chứng kiến. Cả một đoàn người từ mọi miền đất nước với đủ mọi lứa tuổi, trĩu nặng ba lô trên lưng, nhễ nhại mồ hôi trong cái nóng oi nồng mùa hè xứ Huế, nhưng vẫn mải miết hướng về đỉnh núi cao một cách vui tươi, không một lời than vãn. Thật lạ, phần lớn mọi người trong đoàn lần đầu biết nhau nhưng họ lập tức trở nên thân thiết cứ như gặp nhau lâu lắm rồi. Trên đường, bạn có thể thấy một môn sinh còn khỏe mang ba lô dùm cho một bạn yếu hơn; một sư huynh đang giúp môn sinh băng bó chân vì những vết trầy xước do đá nhọn, gai rừng; bạn cũng có thể gặp một môn sinh đang lặng lẽ nhặt những hòn đá bị rơi ra giữa đường vì có thể gây nguy hiểm cho xe lên xuống núi. Điều đáng nói là họ làm tất cả những hành động ấy không một chút nhăn mặt nhíu mày hay ồn ào miễn cưỡng mà hoàn toàn diễn ra trong tự giác, yêu thương và tĩnh lặng.

      Gần ba ngày hai đêm trên núi, mọi nhiệm vụ, mọi căn dặn của thầy được mọi người thực hiện một cách tuyệt đối nghiêm túc, nhanh nhẹn, gọn gàng và rất sạch sẽ. Có lẽ bạn sẽ khó tin rằng, trong suốt thời gian ấy không một nhánh cây rừng nào bị chặt bẻ, mọi công cụ dựng trại đều được mang lên từ nhà; có khó tin không khi biết bao nhiêu hoạt động diễn ra cho gần một trăm con người trong ngần ấy thời gian nhưng trong cả cánh rừng Bạch Mã mênh mông không hề có một cọng rác thải ra dù chỉ là một mảnh giấy vỏ kẹo, tất cả đều được cho vào bao để ngày về mang ra khỏi rừng. Vì thế, bạn sẽ không ngạc nhiên khi ban quản lí rừng quốc gia Bạch Mã đón thầy, đón đoàn võ sinh Nghĩa Dũng Đường như đón người thân trở về. Đơn giản là họ không phải lo môi trường bị ảnh hưởng, họ không phải dọn rác rưởi chai lọ thải ra như nhiều đoàn du khách khác. Thậm chí họ còn dùng hình ảnh của đoàn võ sinh Nghĩa Dũng hành hương Bạch Mã hàng năm như là tấm gương để giáo dục cho du khách. Mình từng làm công tác giáo dục nhiều năm, phải nói rằng có được những học trò như thế là mơ ước của nhiều thầy cô giáo tâm huyết với nghề. Chợt nghĩ về nền giáo dục nước nhà, nói chi cho cao siêu, chỉ cần đào tạo cho đất nước những thế hệ thanh niên như thế này thì chả mấy chốc mà nước ta sánh vai được với các cường quốc năm châu.

       Bí quyết nào để thầy thành công được như thế? Có lẽ chẳng phải vì thầy vừa là thầy văn vừa là thầy võ với thật nhiều những thế hệ học trò vừa say mê tài văn vừa ngưỡng mộ tài võ của thầy. Điều cốt yếu làm nên những thành công của thầy theo mình không gì khác đó chính là tấm lòng, là khát khao trui rèn một lớp trẻ có hoài bão, có bản lĩnh và lòng nhân hậu để giúp người, giúp đời. Đi học võ thì đối tượng phải là võ thuật, hẳn nhiên rồi, ban đầu ai mà chả thế. Nhưng sau một thời gian tập luyện, điều làm chúng tôi tin tưởng và gắn bó với thầy lại là từ văn, từ tấm lòng của thầy với đời. Cái mục đích ban đầu dường như là thô thiển, nhưng cùng với thời gian và nghĩa tình thầy trò huynh đệ, mọi thứ có được bổng trở nên lung linh sống động lạ thường. Trong "Tiếng hát con tàu", nhà thơ Chế Lan Viên đã nhận ra "Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn". Cũng thế, chúng tôi đến với Nghĩa Dũng Đường đến với Thầy lúc đầu chỉ là vì những đòn thế quyền cước, dần dà võ đường trở nên là nơi thân thương như máu thịt để sau này dù có chia xa trăm ngả vì mưu sinh, chúng tôi vẫn hằng ngưỡng vọng về nơi ấy với cả tâm hồn. Đoàn kết yêu thương từ lâu đã trở thành một truyền thống đẹp của Võ đường Nghĩa Dũng Karate-Do, ở đó, chúng tôi tìm thấy không khí ấm áp, tình nghĩa của một mái gia đình mà người thầy cũng là người cha (sư phụ), anh em (huynh đệ) cũng là tay chân ruột thịt.  Một môn sinh huyền đai giã từ Võ đường đi làm anh lính cụ Hồ tận bên nước bạn Lào, ba năm sau về Huế chưa kịp ghé nhà đã mang cả ba lô đến Võ đường chỉ để chào Thầy và xin thắp một nén nhang lên bàn thờ tổ. Thế đấy, khi nghĩa tình được khơi dậy, nó trở thành nhu cầu sống của con người. Hãy thử hình dung mà xem, nếu trên thế giới này nhân loại đều tâm niệm rằng "Người yêu người sống để yêu nhau" thì "Có gì đẹp trên đời hơn thế", trái đất này sẽ đẹp đẽ lung linh biết bao khi vắng hẳn những hận thù ganh ghét, chỉ còn thương yêu ngự trị.

***
[★]
BM2

      Đêm đầu tiên trên đỉnh Bạch Mã, lạnh và gió rét căm căm. Thầy trò chúng tôi quây quần ra mảnh sân của một biệt thự bỏ hoang thành vòng tròn đốt lửa trại. Ở đó bằng ánh sáng bập bùng của ngọn lửa, bằng cả ánh sáng của điện thoại, chúng tôi say sưa hát về nghĩa tình đồng đội, về khí thế hào hùng của dân tộc một thời. Những là "Nối vòng tay lớn", "Đồng Đội", "Đêm Trường Sơn nhớ Bác"... vang lên từ lồng ngực của chúng tôi bằng ngọn lửa tình yêu và hơi ấm của tình huynh đệ. Chứng kiến cảnh gần trăm thầy trò đủ mọi lứa tuổi quần tụ trên một ngọn núi cao trong một đêm giá lạnh cùng hát vang bài hát nghĩa tình ấy thật là cảm động. Đó hẳn là những phút giây thăng hoa hiếm hoi của đời sống hãy còn nhiều ô trọc này.

     Theo lời giới thiệu của thầy, mình tìm gặp Trần Thị Đông, cô sinh viên năm nhất trường Cao đẳng Công nghiệp Huế. Đông là một vị khách của đoàn do mới chỉ mang đai nâu, chưa đủ "tiêu chuẩn" lên núi nhưng do năn nỉ quá nên thầy cho đi theo đoàn như một vị khách "đặc biệt". Hỏi em về động cơ đến với Karatedo, em tâm sự rằng lúc đầu chỉ định đi học một thời gian cho khỏe, nhưng rồi càng học lại càng say mê, không dứt ra được. Điều em thích nhất là tinh thần đồng đội, là nghĩa tình thầy trò huynh đệ rất mực chân tình. Còn tân huyền đai Phạm Thị Thiên An, cô sinh viên Đại học Kinh tế mảnh mai dễ thương rất Huế cũng chẳng nghĩ ngợi lâu, em đáp ngay rằng vì ở Võ đường em gặp được người thầy đúng nghĩa, luôn làm gương cho học trò chứ không chỉ lời nói, ở đó em được học những bài học làm người, ở đó em cảm thấy mạnh mẽ, tự tin và yêu thương mọi người, yêu thương cuộc đời hơn. Mình tranh thủ "ra đòn" thêm, thế em không sợ bạn trai chê con gái học võ à. Rất ngắn, nhưng tôi hiểu câu trả lời chắc nịch của em là không đùa tí nào "Nếu em có bạn trai (ai mà biết được!) thì bạn ấy phải chấp nhận điều đó, nếu không thì...bái bai". Em cười giòn tan, đôi mắt tinh nghịch phản chiếu ánh sáng của ngọn lửa nhảy múa lung linh.

    Thật lạ, chả ai đề cập gì đến công phu võ thuật của thầy với đòn nọ thế kia, với những bài huấn luyện kỹ năng thi đấu để giành huy chương như thế nào. Cho hay, bất cứ môi trường giáo dục nào và ở bất cứ thời nào cũng cần một nhân cách sáng ngời của người thầy để làm gương cho học trò. Thậm chí không cần thầy phải rao giảng nhiều, chính bản thân thầy là một bài học thuyết phục nhất cho trò. Đến đây mình chợt nhớ, trong chuyến hành hương vừa rồi, cả chuyến đi lên và đi xuống, "cụ ông" già nhất đoàn luôn là người đến đích đầu tiên.

     Nhớ có lần thầy mình bảo, một trong những cái thú ở Bạch Mã là đêm ngắm sao trời, mình lặng lẽ rời khu vực lửa trại đi vòng xuống con đường rừng. Cảnh trời đêm trên đỉnh Bạch Mã thật tuyệt, có thể cảm giác được làn khí rất trong lành và tinh khiết, bầu trời như gần hơn với cơ man là các vì sao to nhỏ, có cảm giác như trên đầu là một tấm màn nhung gắn vô số những viên kim cương lấp lánh. Xa dần ánh lửa trại, tiếng hát của huynh đệ mình cũng chỉ còn nghe thoang thoảng. Một mình giữa rừng đêm thâm nghiêm u tịch thốt nhiên mình cảm thấy một chút rúng động, cảm giác như khi ta đang bước vào một ngôi đền linh thiêng vì một lời nguyện cầu trọng đại nào đó. Ở những khoảnh khắc như thế, tâm thức ta thường tập trung cao độ và những tạp niệm đời thường không còn hiện diện, nhường chổ cho những suy tư tử tế thường xuất hiện không nhiều lần trong đời.

      Ngày đến với Võ đường Nghĩa Dũng Karatedo chúng tôi chỉ là những đứa trẻ con, trẻ con cả tuổi đời lẫn nhận thức về võ Đạo. Võ nghiệp mở đầu bằng chiếc đai trắng, tinh khôi hồn nhiên như những cô cậu học trò đến lớp bắt đầu với những chữ cái đầu tiên trong đời. Khổ công luyện tập, đổ thật nhiều mồ hôi, thậm chí đổ cả máu, cùng với sự hướng dẫn tận tâm của thầy, màu đai đậm dần, xanh, nâu...và cuối cùng là màu đen. Khó nói hết niềm vui sướng tự hào của chúng tôi khi được thắt chiếc đai đen Karatedo, niềm mơ ước của bất cứ ai khi mới nhập môn. Điều đáng nói là cái đậm dần của màu đai song hành với cái "đậm" dần trong nhận thức võ Đạo. Chúng tôi hiểu ra rằng luyện tập Karatedo chỉ là con đường để rèn luyện và hoàn thiện bản thân mình, cũng như phật tử dùng việc gõ mõ tụng kinh mà tu thân vậy.

     Thầy mình bảo, huyền đai chưa phải là mục đích cuối cùng, nó mới chỉ là bắt đầu của con đường đến với Đạo, đến với mục đích tối thượng là rèn luyện mình trở thành một Karateka đúng nghĩa: Thân dẻo dai cường kiện, Tâm tĩnh lặng vô ưu, Trí sáng ngời nhật nguyệt.  Chúng tôi lại lao vào tập luyện cho các kì thi nâng đẳng. Chiếc đai đen lại dần dần được điểm ngang bằng những vạch trắng. Ra thế, chúng tôi đã tốn nhiều công phu để mang được đai đen, nay thì ngược lại, màu đen đang dần nhường chổ cho màu trắng, trắng của những vạch màu và của cả thời gian in dấu. Quá trình luyện rèn tu tập của con người hình như cũng đi theo một vòng tròn, chúng tôi đang hướng về vị trí xuất phát với những phẩm chất khác hẳn lúc mới nhập môn, vững vàng hơn, tĩnh lặng hơn. Những chiêu thức, đòn thế dường như đã được "quên" đi, không dám nói là đã đạt đến cảnh giới thượng thừa của các bậc sư phụ ngày xưa "vô chiêu thắng hữu chiêu", nhưng chắc chắn là chúng tôi chiêm nghiệm và cảm nhận về Võ Đạo, về con đường hoàn thiện mình rõ ràng hơn. 
 
    
       Cũng như thầy, mình vừa là thầy văn vừa là thầy võ, ban ngày lên bục giảng bận bịu với học sinh để chiều tối lại khoác kimono ra sân thao luyện cùng đệ tử. Cùng là mục đích giáo dục nhưng có một sự khác biệt căn bản giữa quan hệ thầy giáo-học sinh và sư phụ-đệ tử. Nhà trường là nơi thể hiện những thành tựu của khoa học với các môn học từ đơn giản đến phức tạp; trong khi võ thuật, võ đạo với những hệ thống triết lí, đạo đức của nó thì giống với một tôn giáo hơn. Trong thế giới của khoa học mối quan hệ thầy giáo/ học sinh tồn tại, bởi vì khoa học có thể được dạy. Nhưng những tinh hoa võ đạo nói riêng và tôn giáo nói chung không thể được dạy, nó chỉ có thể được truyền trao theo một cách riêng.

       Có tri thức mà thầy giáo truyền cho học trò, như vẫn được làm trong các nhà trường. Chắc chắn tri thức đó là sự chuyển trao từ lời nói, nhưng tri thức như vậy sẽ là nông cạn. Cái có thể được trao qua lời sẽ không sâu sắc hơn bản thân lời. Nhưng có những tri thức không thể chuyển trao được bằng lời. May thay, cái không thể nào được trao một cách trực tiếp thì lại có thể được truyền trao một cách im lặng, điều không thể giao tiếp bằng lời thì có thể giao tiếp bằng trái tim. Chúng tôi, những đệ tử của Nghĩa Dũng Đường hiểu thầy của mình đằng sau những gì thầy nói, qua những việc thầy làm. Vì thế chúng tôi không chỉ tập trung để nghe thầy nói mà thực sự là "sống" cùng thầy. Học sinh chỉ cần tập trung, đệ tử thì lại cần thiền. Tập trung nghĩa là người đó phải nghe đúng điều đang được nói. Thiền nghĩa là phải hiện diện đúng; không chỉ nghe đúng.

        Về khía cạnh này ai đó đã nói thật có lí rằng, mối quan hệ sư phụ-đệ tử như là chuyện tình, một câu chuyện tình không kém phần vĩ đại. Hình như những đôi trái gái thực sự yêu nhau, hiểu nhau cũng giao tiếp bằng trái tim chứ không phải thật nhiều lời. Hãy nghe thi sĩ Xuân Diệu kể về một lần chở người yêu trên xe đạp "Ước được ngàn năm bên giọng ấy/Đèo em đi tận cuối không gian/ Và khi không nói em im lặng/ Anh vẫn nghe hay tựa tiếng đàn"; một lần đưa tiễn "Anh nhớ mãi một bến xe/Đến đó đôi ta từ biết/ Em yên lặng anh lắng nghe/Mắt em nhìn ngàn vạn tơ xe..." ; một lần hiểu người yêu đến như thế này "Chuyện trước em chưa kể một lời/Mà anh đã hiểu tận sâu khơi/Vai anh khi để đầu em tựa/Cân cả buồn vui của một đời...".
***
 

       Trời càng về khuya càng lạnh, mình quay trở về căn biệt thự bỏ hoang, mọi người đã ngừng sinh hoạt và tự tìm cho mình một nơi chợp mắt lấy sức cho ngày mai. Mình cũng leo lên võng ngã lưng, chả thể nào ngủ được. Mình nằm nhìn rừng cây cổ thụ lấp loáng dưới ánh sao nhạt nhòa ẩn hiện trông như những gã khổng lồ kì quái, lắng nghe cái yên tĩnh rất động của núi rừng. Ngay cả gió cũng không còn vung vít như hồi đầu đêm, chỉ còn nghe tiếng xào xạc của lá, tiếng của muôn loại côn trùng, cả tiếng của một con chim nào đi ăn đêm vọng về từ một nơi xa ngái nghe thật buồn. Trong cái thâm nghiêm mênh mông của đêm rừng, trong vô vàn những âm thanh lạ lùng cứ như có cả ngàn vạn sinh linh đang cùng tấu lên khúc nhạc rừng liêu trai ấy, mình chợt cảm nhận được sức mạnh vô biên của núi, của vũ trụ bao la, ở đó nhân loại đáng thương mới nhỏ bé và mong manh làm sao.

      Sáng hôm sau, kết thúc buổi lễ phong đai cho các tân huyền đai trên đỉnh Vọng Hải Đài, chúng tôi men theo vách núi hành quân về dựng trại trên đỉnh thác Đỗ Quyên, ngọn thác hùng vĩ cao gần 300 m quanh năm tung nước trắng xóa xuống các khe suối.  Nếu đến Bạch Mã vào mùa trăm hoa đua nở, cả dòng suối như đắm mình trong màu đỏ thắm của hoa đỗ quyên, bởi vậy thác có tên là Đỗ Quyên.

     Theo thông báo của Thầy, tất cả môn sinh mặc võ phục xuống chân thác ngắm cảnh và chụp ảnh lưu niệm. Nhìn cái chân băng bó của mình, thầy đề nghị nên ở lại đỉnh thác vì đường dốc đứng vòng vèo lại trơn trợt rất khó đi. Số là hôm qua, lúc đi lên mới được nửa đường cái vết chấn thương đầu gối trái trong một lần thi trước đây bỗng dưng tái phát rất đau, mình phải băng bó tạm cho dễ đi. Dĩ nhiên là không đời nào mình chịu ở lại, đi cả ngàn cây số từ Tây Nguyên về đây không lẽ lại ngồi chờ cơm. Nói thật là mình cũng không ngờ khi đi xuống cái chân nó lại đau đến thế. Tay gậy, tay vịn cây rừng cùng sự hỗ trợ của hai võ sinh nhưng mỗi bước đi là một lần nhăn mặt. Bù lại, mình được hưởng cái cảm giác choáng ngợp và sửng sốt khi được ngắm trọn vẹn ngọn thác Đỗ Quyên sừng sững từ dưới chân của nó. Bao nhiêu ngọn thác mà mình có dịp đi qua đều không thể so sánh với Đỗ Quyên về mức độ hùng vĩ và hoang sơ. Bằng một cuộn dây thừng buộc vào rễ cây và những tảng đá, lần lượt từng người theo dây xuống đến bãi đá khá bằng phẳng ngay dưới chân thác. Vào mùa mưa nhiều, không ai dám xuống đến đây vì có thể bị nước cuốn phăng đi bất cứ lúc nào. Những người canh rừng bảo chỉ có thầy trò Nghĩa Dũng Đường là tìm được con đường độc đạo bằng dây thừng mà xuống, còn tất cả du khách đều phải dừng lại từ phía tên. Nghe đâu có người cảm khái đặt tên cho "con đường" có một không hai này là đường Nguyễn Văn Dũng. 
       Trong miên man tiếng âm ào thác đổ, thầy nói với mình rằng không biết bao nhiêu lần thầy đã đến đây, đã ngắm ngọn thác này nhưng lần nào thầy cũng cảm thấy xúc động trước cái vĩ đại của tạo hóa. Đứng khoanh tay ngước mắt nhìn lên đỉnh ngọn thác xa mờ, thầy còn nói thêm, giọng  nghe xa xăm như đang tâm sự với núi rừng: "Thầy chia sẻ với em một điều, sau chuyến đi này thầy sẽ không viết gì, không nói gì về Bạch Mã nữa". Chỉ thế thôi, rồi thầy im lặng, cái im lặng đủ để mình hiểu rằng, không nên hỏi thêm hay làm ngắt đi dòng suy tưởng không thể là tầm thường của thầy, một võ sư từ lâu gắn bó gần như ruột thịt với ngọn núi mà ông từng lấy làm biểu trưng của Võ đường. Mình cũng im lặng.

      Ngày xưa, khi thầy quyết định chọn Bạch Mã sơn để làm biểu trưng cho Nghĩa Dũng Đường, thực lòng mình không lấy làm bất ngờ. "Kẻ nhân thích núi", những bậc hiền nhân ở đời xưa nay vẫn thường chọn núi cao để trui rèn những giá trị tâm linh. Ở đó là nơi hội tụ nhiều năng lượng sống của vũ trụ, và khi con người biết phương cách để hòa nhập cái ngã của mình vào với núi thì có thể thu nhận được nguồn năng lượng tâm linh vô biên này mà thăng hoa cho cơ thể và tâm hồn, từ đó mà có đủ công phu để giúp người, giúp đời. Nhiều hiền nhân, đạo sĩ cốt cách hơn người đã được tái sinh từ những ngọn núi cao. Thầy mình từng đặt chân đến những ngọn núi nổi tiếng trên thế giới, từ Phú Sĩ của đất nước Mặt Trời mọc, Himalaya huyền bí, Tây Tạng xa xôi cho đến tận núi Linh Thứu Ấn Độ, nơi Đức Phật Thích Ca thuyết giảng nhiều bộ kinh quan trọng của nhà Phật sau khi giác ngộ. Thế nhưng có lần thầy tâm sự, không có ngọn núi nào thầy đi qua mà năng lượng tâm linh còn dồi dào như Bạch Mã. Chỉ cần tĩnh tọa, thư thái, hòa được cái tâm bé nhỏ của mình với núi rừng như giọt nước hòa vào đại dương, sẽ cảm nhận được nguồn năng lượng mênh mông tươi mới của núi rừng Bạch Mã. Chỉ tiếc rằng giữa cõi thế nhọc nhằn này, con người quá bận rộn, tất bật với những hỉ nộ ái ố ở đời mà không chịu cúi đầu ngồi xuống dưới chân núi một lần để thanh khiết tâm hồn mình vốn đã quá mịt mờ u tối theo tháng năm.

      Chơt giật mình. Thầy đã có mặt trên bạch Mã từ năm 1956, khi còn là cậu bé 15, 16 tuổi. Hàng chục năm nay, kể từ năm 1980, năm nào thầy cũng lên Bạch Mã, chí ít là một lần để "rèn luyện, tĩnh tâm và hòa cái thân bé nhỏ của mình vào đại ngã bao la". Từ đó, thầy đã có biết bao nhiêu là bài viết đăng ở nhiều sách báo khác nhau về nhiều cung bậc của ngọn núi này.  Điều gì đã thôi thúc thầy quyết định sẽ không phát ngôn gì nữa về Bạch Mã?  Thầy đã nhận ra điều gì chăng sau ngần ấy năm tâm giao cùng Bạch Mã, ngọn núi mà thầy luôn coi là "cõi riêng, trầm lắng, thanh thoát mang phong vị thiền"? Mình mang theo những băn khoăn ấy cho đến ngày xuống núi. 

       Bạch Mã lùi dần sau lưng  cũng trên con đường ấy, khoảng cách ấy nhưng chúng tôi không hề thấy cách xa như lúc đi lên. Đơn giản thôi, như cái đai trắng lúc chúng tôi bắt đầu tập võ và cái đai trắng dần sau huyền đai, một mảnh tâm hồn chúng tôi đã ở lại cùng Bạch Mã, một mảnh tâm linh Bạch Mã đã theo chúng tôi ra về, như thế thì còn đâu là xa cách.

      Một lần ngồi nghỉ mệt bên cạnh một dòng suối nhỏ, uống một ngụm nước mát lạnh, nhắm mắt tĩnh tâm hướng về phía đỉnh núi xa mờ đã trở nên thân thiết, mình cố hòa nhập với núi. Mình như thấy lại một đêm sao rừng huyền diệu, những gã khổng lồ đêm kì quái, bản nhạc rừng kìa lạ, thác Đỗ Quyên lừng lững vô thường, ánh lửa rừng đêm ấm cúng tình thầy trò huynh đệ, Vọng hải đài với những tân huyền đai trang nghiêm, vững chãi...những hình ảnh vừa như thật gần vừa xa xôi lướt qua tâm thức mình một cách tĩnh lặng. Thốt nhiên mình hiểu được thầy. Như ngọn Bạch Mã sừng sững kia tự tại ở đó qua biết bao đời nay, dù nắng dù mưa, dù thế sự vô thường, lòng người thay đổi. Núi vẫn bao dung như vạn thuở, ngôn ngữ không lời của núi đủ lay động thế nhân, trong đó có cả thầy.

       Lão Tử từng nói: "Đạo khả Đạo phi thường Đạo", Đạo không thể được nói ra, và nếu nó được nói ra thì không còn là Đạo nữa. Suốt quãng đời của mình, thầy đã nói thật nhiều, đã dạy thật nhiều những thế hệ học trò. Nay là lúc để cho tất cả những gì đã qua trong đời thầy lắng đọng trong tĩnh lặng, lan tỏa như năng lượng của núi rừng. trong một không gian tâm giao và với cái tâm hòa nhập, đến lượt mình, những đệ tử của thầy có thể cảm nhận, có thể tự chuyển hóa trên con đường đến với Đạo. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong một lần chú tâm cũng từng nghe sông núi "Im lặng dòng sông tôi đã lắng nghe/ Im lặng ngọn đồi tôi đã lắng nghe", chúng tôi, những huynh đệ Nghĩa Dũng Đường, những đệ tử của thầy cũng đang lắng nghe. Chúng tôi vẫn tiếp tục lắng nghe thầy, lắng nghe Bạch Mã, lắng nghe cả từng hơi thở của chính mình. Và, trong sự lắng nghe yên tĩnh ấy, chắc chắn chúng tôi sẽ cảm nhận được nguồn năng lượng tâm linh đủ làm tươi mới tâm hồn mà bước đi giữa đời với bước chân vững chãi và trái tim yêu thương.

BM1

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

CHUYỆN BẾP NÚC




Suốt một tuần long đong chừ mới được một sáng thong dong “lo” chuyện bếp núc. Đẩn một tô phở to do vợ nấu, sáng mắt sang lòng rồi mềnh mới có dịp nhòm lại khu vực chuyên chăm lo cho cái bao tử này. Ra thế, khoa học công nghệ là thế đấy, hiện đại thế, hoành cháng thế. Chả bù cho ngày xưa…

Ngày xưa mạ mềnh kê ba cục gạch sau hồi nhà làm cái bếp, nhiên liệu là mọi thứ rơm rạ, lá khô nhặt nhạnh trong vườn. Nhà quê mềnh ngày ấy sao hiếm hoi chất đốt đến thế, lâu lâu mạ mới mua được một gánh củi chẻ ra để dành trong bếp, chỉ dùng đến khi cần thiết. Bởi thế, trẻ con làng mềnh đứa nào cũng quen với động từ “mót củi”, ngoài giờ học mềnh bưng cái rổ đi hết hang cùng ngõ hẻm trong làng để mót củi, đúng ra là mót bất cứ cái gì có thể đút được vào bếp, đôi khi chỉ vì giành nhau một chiếc đũa tre mà đánh nhau sứt đầu mẻ trán…

Cũng bởi vì thế, mỗi khi nấu nướng là phải ngồi trực bên bếp cho xong bữa chứ làm gì có chuyện hẹn giờ tự động như bây giờ, sơ sểnh một chút là lửa tắt hoặc cháy khét, nấu xong bữa cơm đôi khi hai lỗ mũi đen thui muội than…Nhà chỉ có hai mạ con, mềnh thường được mạ phân công nhen lửa (nhóm bếp) cho bà nấu nướng. Công việc này xem thế mà không đơn giản tí nào, nhất là những hôm mưa gió ướt át, có khi loay hoay cả buổi mà mềnh không sao làm cho lửa bén vào mấy thanh củi đươc, đành ngồi khóc hu hu, hi hi…

May mà làng mềnh có nhiều nhà làm nghề làm bún bánh, các lò làm bún bánh thường phải đỏ lửa suốt ngày. Thế là mềnh lại thêm cái nghề đi “xin lửa” (quê mềnh gọi là lã). Thay vì nhóm bếp mềnh chỉ việc cầm cái bát vỡ qua nhà hàng xóm xin mấy cục than hồng về, mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn hẳn. Xin mãi một nhà cũng ngại, mềnh đi xách đít một vòng các nhà xung quanh, hết lượt thì bắt đầu lại từ nhà đầu tiên.

Tuy nhiên có một sự cố mà sau đó mềnh quyết định bỏ hẳn, không hành nghề xin lã nữa. Ấy là lần mềnh xin lã nhà ông chắt Lức, vừa vào nhà mềnh bắt gặp ngay vơ chồng ả Liên, con gái đầu của ông chắt Lức, đang chơi trò vợ chồng trên giường. Thay vì rút lui trong trật tự thì mềnh, cái thằng con nít nhà quê khi ấy cứ tay cầm khư khư cái bát vỡ say sưa đứng nhìn cứ như lần đầu được vào sở thú, hi hi. Cực chẳng đã, ả Liên thò mặt ra khỏi chăn bảo, mi đi xin lã thì cứ xuống bếp mà lấy hự…hự… Sực tỉnh, thay vì xuống bếp thì mềnh chạy một mạch về đi kể khắp xóm làng rằng cái bọn sở thú nó vật nhau ra làm sao, he he…Chả biết ả Liên tố cáo thế nào mà mềnh bị mạ nện cho một trận đòn ra trò. Từ đó mềnh tuyên bố bỏ hẳn màn đi xin lã.

Cứ giả sử trời đất cho mạ sống lại rồi đặt vào căn bếp bây giờ thì có lẽ mạ cũng bó tay. Từng bếp núc một thời khói bụi, chừ làm sao mạ có thể thao tác với mớ máy móc sặc mùi…điện tử kia. Các bà nội trợ bây giờ cứ như nghệ sỹ đang chơi đàn trong bếp, bấm nút nọ, vặn nút kia, máy móc chạy vù vù, chuông báo hiệu kêu kính coong. Các bà có thể vừa nấu nướng vừa buôn điện thoại, thậm chí lại vừa theo dõi một bộ phim Hàn đang đến hồi lâm li bi đát. Nhoáng một cái là xong hết cả, cơm ngon, canh ngọt, chiên xào, hấp nướng...

Nhanh đến thế, sạch sẽ đến thế, tiện lợi đến thế. Nhưng nhìn thế thôi, mềnh chưa bao giờ tìm được bữa cơm nào ngon như những bữa cơm của thời rơm rạ. Đơn giản lắm, sơn hào hải vị có thể đầy ra đấy nhưng làm sao có được mạ bây giờ. “Không chi ngon bằng cơm với cá, không chi sướng bằng mạ với con”, ngày xưa mạ đã chẳng thường nói với con như vậy là gì…
 

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

SỐNG CHẾT MONG MANH...




Chả hiểu cơn cớ gì mà dạo này mình lại thích tìm hiểu về cái sự chết, xem nó mặt mũi ngang dọc thế nào, xem nó là cái thá gì mà ai cũng sợ đến thế.
Thực ra thì thời sinh viên ở Huế mình đã từng "đánh bạn" với nó rồi. Thời ấy, mỗi lần xỏ găng bắt đầu cho một trận tỉ thí là mình lại nghĩ xong trận này quá lắm là phải vào hòm cho người ta khiêng đi chôn là cùng chứ gì. Lạ là những trận ấy mình đấu đá tưng bừng khói lửa, đã chẳng bị dính đòn gì đáng kể mà trái lại đối thủ lại sợ mình chết khiếp. Cám ơn cái thằng bạn tốt ... chết tiệt, hi hi.

Xem thử Krishnamurti nói gì nào: "Cũng như sống, chết chắc chắn phải là một cái gì đó phi thường. Đời sống là một tổng thể...Và để hiểu cái chết, chúng ta phải hiểu tổng thể cuộc sống, chứ không phải tách ra một mảnh rồi sống với cái mảnh rời rạc đó như hầu hết chúng ta làm. Ngay trong sự hiểu về cuộc sống có sự hiểu về cái chết, vì cả hai không thể tách rời nhau". Ừ nhỉ, hèn chi mà nhân loại khổ thế, cứ đòi tách ra, cứ muốn chấp nhận ngày chứ không chấp nhận đêm, chỉ chấp nhận cái nửa "sống" chứ kiên quyết không chấp nhận nửa "chết". Nhưng, cái lý tình tang là ở chổ, dù có không chấp nhận thì rồi cuối cùng cũng chết, mà chết trong giãy dụa mới điên chứ, hi hi.

Giờ thử tham khảo Osho xem, "Nếu cái chết mà xấu, điều đó có nghĩa là toàn bộ cuộc sống của bạn đã bị phí hoài. Cái chết nên là sự chấp nhận an bình, một lối đi đáng yêu vào cái không biết, một lời chào tạm biệt vui vẻ với những người bạn cũ, với thế giới cũ. Không nên có thảm kịch nào trong đó". Ua chầu! Đáng yêu quá, dễ thương quá!

Trong cơn hưng phấn, mình lật "Ngọn núi ảo ảnh" của bác Hoàng Phủ Ngọc Tường ra kết một cái luận: "Mặc dù các em gái xinh đẹp luôn luôn che miệng cười, tôi đoan chắc rằng, con người sẽ sống đỡ ngu xuẩn hơn, chừng nào hắn còn biết dành ít thì giờ để tò mò về cái chế, cái chết của chính hắn.

Không, mình dứt khoát không chịu sống ngu xuẩn, cái chết muôn năm! He he he.

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

CHUYỆN CÁI ĐẦU…GIƯỜNG






Nguyên cái giường thì hẳn là có nhiều chuyện để nói rồi, hãy cứ quan tâm đến cái đầu giường cái 
đã, he he.

Ngang qua cái phòng cô con gái thấy nó trang trí cái đầu giường trông vui mắt, sinh động đáo để, cơ man là hình ảnh cắt dán, thú nhồibông các loại, đủ màu sắc, đủ kích cở. Chợt nhớ lại thời trẻ con, trên cái giườnggỗ ọp ẹp mình biến cái đầu giường thành cái kho để hằm bà lằng các loại đồ chơicon trẻ nhà quê một thuở.


Mình vốn ham chơi lêu lổng từ bé, chả có trò gì củacon nít nhà quê thời ấy mà mình không tham gia, chơi khăng, đánh đáo, súng caosu, chọi vụ (con vụ)…thôi thì đủ cả. Hồi ấy làm gì có tủ kệ như bây giờ, đichơi về là tiện tay vứt hết “đồ nghề” lên đầu giường, sợ mạ tịch thu thì giở chiếc chiếu lên nhét đồ chơi xuống dưới, thế thôi. Nhớ có lần, mình còn để luôncả thẩu cá lia thia (cá đuôi cờ) lên đầu giường, tối ngủ say khua khoắng thếnào đánh đổ thẩu cá, sáng mở mắt đã thấy chú cá cưng nằm dưới chân giường bị lũkiến bu kín, mính tiếc đứt ruột mất mấy ngày.


Đến tuổi học cấp hai thì ngoài đồ chơi, đầu giườngcòn có sách. Ông anh đi công tác xa thỉnh thoảng về mang theo mấy cuốn truyện, mình vớ lấy ngấu nghiến, lâu dần thành nghiện.Đó là thú tiêu khiển sang trọng nhất của mình thời ấy. Thói quen đọc theo qua thời cấp ba, sinh viên, rồi mãi tới bây giờ. Cái đầu giường không thể thiếu sách.


Kịp đến cái tuổi thanh niên sung sức, biết đu đưagái gú rồi vợ con, đầu giường kiêm thêm nhiệm vụ “sex store” với một vài món “đồchơi” phục vụ cho cái nhu cầu thổ tả mà rất đỗi thiêng liêng của phần “con” yêudấu. Hăm bốn trên hăm bốn, cứ khi nào ba máu sáu cơn trỗi dậy là đầu giường lại ngoan ngoãn cung cấp phương tiện ngay, không chậm trễ giây nào, hi hi…


Hôm qua, sau một ngày tất tả ngược xuôi vì cái nhiệmvụ khốn khổ của đời người gói tròn trong hai chữ “mưu sinh”, tối leo lên giường mình đã mệt lả, người đau như dần từ đầu đến chân, cứ như vừa mới bị tra tấn. Mụvợ bèn huy động các loại dầu xoa bóp thật lực cho mình. Có khi do cái diện tíchmặt ngoài không nhỏ, công với da thịt mình chẳng mềm mại gì nên xong việc đếnlượt nàng mệt quá nằm vật ra kêu nhức mỏi. Thế là đến lượt mình phải bò dậy làmcái việc tương tự cho đối tác.
Giở cái đầu giường lên mình mới tá hỏa, đồ chơi củatuổi xế chiều đây ư? Vô số các loại dầu gió xanh đỏ cứ như cửa hàng dược. Thôithì đủ loại chai lọ màu sắc, nhãn hiệu từ Mã đến Sing từ Thái đến Tàu, có cả mấychai nước gì màu bả trầu mà vợ giải thích là thuốc gia truyền mua tận Chợ lớn chuyên trị thấp khớp.


À thì ra thế, một thời trẻ trai hăm hở trôi qua trênđầu giường, tà tà bóng ngã về tây, nay tuổi già cũng ân cần thăm hỏi ta từ chínhcái đầu giường, đợi một ngày đẹp giời đến lượt chân giường sẽ khép kín cái vòngtròn trên phận người thân ái. 


Có sao đâu nhỉ, những thứ “không hẹn mà đến” hôm nào rồi cũng có ngày “không chờ mà đi”, “mệt quá đôi chân này” thì “tìm đế chiếc ghếnghỉ ngơi”, còn “mệt quá thân ta này” là lúc “nằm xuống với đất muôn đời”, TrịnhCông Sơn bảo thế, rứa thôi.


Hi vọng đến lúc đó mình còn đủ thời gian và sức lực đểviết tiếp câu chuyện về nguyên cả cái giường, hi hi hi…