Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

GIÀU NGHÈO VÀ TÂM LINH




     Trước hết hãy nói đôi điều về chuyện giàu nghèo. Có hai loại giàu nghèo ở đời, giàu nghèo về vật chất (thứ mà đa phần nhân loại bàn tới) và giàu nghèo về tâm linh. Giàu nghèo về của cải vật chất thì đã rõ, một người giàu có về tâm linh là một người đạt tới giác ngộ cao, sống với cái tâm thanh thản vô lượng và đầy lòng trắc ẩn. Osho gọi sự giàu có vật chất là giàu có bên ngoài; giàu có tâm linh là giàu có bên trong.
    Thế thì chuyện giàu nghèo ở đời có liên quan gì đến tâm linh không nhỉ? Phương Tây rõ ràng là giàu có (vật chất) hơn Phương Đông nhưng tôn giáo Phương Tây ra đời trong nghèo khó, có liên hệ gì không khi càng nhiều người Phương Tây tìm đến, thậm chí là đốn ngộ với tôn giáo Phương Đông?
Trong khi những tôn giáo phương Đông xuất phát từ Ấn Độ lại được sinh ra trong sự giàu có, nhưng ngay tại đất nước này thì lắm người nghèo đến thế? Có thật nhiều chùa chiền sư sãi ở các nước Phương Đông, họ toàn là những người giàu có tâm linh, luôn trong trạng thái mãn nguyện chăng? 
    Đoạn trích sau đây là những luận giải của Osho về vấn đề này. Khoan bàn đến chuyện đúng sai, hãy cứ đọc và suy ngẫm.

***

Hãy nghĩ về sự nghịch lí này: Khi bạn giàu có bên ngoài, thì chỉ lúc đó bạn mới trở nên nhận biết về sự nghèo nàn bên trong - qua sự tương phản. Khi bạn nghèo bên ngoài, bạn không bao giờ nhận biết về sự nghèo nàn bên trong bởi vì không có sự tương phản nào. Bạn viết với phấn trắng trên bảng đen, không phải trên tấm bảng trắng. Tại sao? Bởi vì chỉ trên bảng đen chữ mới hiện ra rõ ràng. Cần phải có sự tương phản.
Khi bạn giàu có bên ngoài, thì bỗng nhiên sự nhận biết sâu sắc xảy ra, rằng: “Bên trong tôi nghèo, tôi là một kẻ ăn xin”. Và bây giờ, một trạng thái vô hy vọng đến như một cái bóng: “Mọi cái mà chúng ta nghĩ về đều đã được đạt tới- mọi tưởng tượng và bứt phá đều được thực hiện- và không có gì xảy ra từ nó, không có sự hài lòng, không có phúc lạc nào cả.”
Phương Tây hoang mang. Từ sự hoang mang này, một ước vọng lớn khởi lên: làm thế nào để một lần nữa tiếp xúc với bản ngã của mình.
Thiền định không là gì khác hơn ngoài việc cắm rễ một lần nữa vào trong đời sống nội tâm, vào trong tính nội tại của bạn. Do vậy, phương Tây đang trở nên rất quan tâm đến thiền định và rất quan tâm đến những kho báu của phương Đông.
Phương Đông cũng quan tâm đến thiền định khi phương Đông giàu có: điều này phải được hiểu. Đó là lý do tại sao tôi không chống lại sự giàu có và tôi không nghĩ rằng sự nghèo nàn có một chút tính tâm linh nào trong nó. Tôi hoàn toàn chống lại sự nghèo nàn, bởi vì bất cứ khi nào một đất nước trở nên nghèo, nó đánh mất tất cả thiền định, tất cả những nỗ lực tâm linh. Bất cứ khi nào một đất nước trở nên nghèo bên ngoài, nó không thể nhận biết về sự nghèo nàn bên trong.
Đó là lý do tại sao trên những khuôn mặt Ấn Độ bạn có thể thấy một loại mãn nguyện mà không được tìm thấy tại phương Tây. Nó không phải là sự mãn nguyện thực thụ: nó chỉ là trạng thái u mê về sự nghèo nàn nội tâm. Những người Ấn Độ nghĩ, “Hãy nhìn vào sự lo âu, sự thống khổ, và sự căng thẳng trên những khuôn mặt phương Tây. Mặc dù nghèo, song chúng ta rất sung mãn bên trong.” Đó là sự ngây ngô, vớ vẩn cực kỳ: thực ra, họ không sung mãn. Tôi đã từng quan sát hàng ngàn người- họ không sung mãn. Một điều chắc chắn đúng, là họ không nhận biết về sự bất mãn, bởi vì để nhận biết sự bất mãn, thì phải cần đến sự giàu có bên ngoài Không có sự giàu có bên ngoài, thì không ai nhận biết sự bất mãn bên trong của họ- và có thừa chứng cớ về điều đó.
Tất cả những avatar của những người Hindu đều là vua hay là con trai của vua. Tất cả những tirtankara của đạo Jaina, những đạo sư Jaina, đều là vua: đức Phật cũng vậy. Tất cả ba truyền thống lớn của Ấn Độ đã cung cấp đầy đủ chứng cứ. Tại sao Đức Phật trở nên bất mãn, tại sao Ngài bắt đầu một cuộc tìm kiếm thiền định? Bởi vì Ngài giàu có. Ngài sống trong xa hoa; Ngài sống với tất cả mọi tiện nghi vật chất. Bỗng nhiên ngài trở nên nhận biết. Và ngài chỉ mới 29 tuổi khi Ngài nhận biết rằng có một lỗ hổng đen bên trong. Ánh sáng ở bên ngoài; do vậy, nó cho thấy bóng tối bên trong của bạn. Rồi ngài trốn thoát khỏi cung điện.
Đó là điều đã xảy ra cho Mahavira: Ngài cũng trốn khỏi một cung điện. Nó không xảy ra cho một kẻ hành khất. Cũng có những kẻ hành khất trong thời của đức Phật. Thật ra, theo truyền thuyết, đức Phật từ bỏ thế gian khi Ngài thấy một kẻ hành khất lần đầu tiên , và một ông già, một tử thi, và một sannyasin. Những người ăn xin có mặt ở đó.
Đức Phật (lúc ấy là thái tử Siddharta) sắp khai mạc một lễ hội dành cho giới trẻ. Từ cỗ xe vàng của mình, chàng thấy một kẻ hành khất- lần đầu tiên, bởi vì phụ vương chàng đã bằng mọi cách sao cho thái tử sẽ không bao giờ thấy một kẻ hành khất, hay một người  bệnh, hay một người chết. Bởi vì Ngài đản sanh, những nhà chiêm tinh đã nói với vua cha: “Nếu thái tử thấy những người này, ngay lập tức thái tử sẽ từ bỏ thế gian, cho nên, đừng cho phép thái tử thấy họ.”Do vậy, bất cứ nơi nào Thái tử thường đi tới, những kẻ hành khất được lệnh chuyển đi nơi khác. Những người già sẽ bị chuyển đi, hay bị buộc phải ở trong nhà họ, không được ra ngoài. Ngay trong khu vườn của thái tử, không chiếc lá chết nào được cho phép. Mọi lá chết đều được thu dọn trong đêm, do vậy, vào buổi sáng khi thái tử đi ra vườn, chàng chỉ có thể thấy sự trẻ trung, những chiếc lá non, những bông hoa mơn mởn. Chàng chưa bao giờ thấy một bông hoa héo tàn.
Khi chàng thấy một kẻ hành khất đầu tiên…Và câu chuyện ngụ ngôn này thật đẹp; nó nói rằng, chư thiên trở nên lo lắng; “Vua cha đang quá thành công. 29 năm đã trôi qua và thái tử có năng lực trở nên một trong những kẻ chứng ngộ nhất trên thế gian.” Chư thiên trở nên lo lắng: “Phụ vương chàng xoay sở quá thành công, đến mức có thể chàng sẽ không bao giờ gặp một kẻ hành khất hay một người già; chàng có thể bỏ lỡ.” Do vậy, một vị thần hóa thành một kẻ hành khất, một vị khác, một ông già, một vị khác, một người chết, và một vị khác, một sannyasin.
Do vậy, trong thời của đức Phật, những người hành khất có mặt ở đó- nhưng họ không từ bỏ thế gian. Họ không có gì để từ bỏ; họ mãn nguyện. Nhưng thái tử Siddharta trở nên bất mãn.
Xưa kia, khi Ấn Độ giàu có, nhiều người quan tâm đến thiền định. Chẳng sớm thì muộn, họ buộc phải bắt đầu nghĩ về mặt trăng, về cái  “bên kia”, về cái bên trong. Bây giờ đất nước nghèo, quá nghèo đến mức không có sự tương phản giữa cái bên trong và cái bên ngoài. Cái bên trong nghèo, cái bên ngoài cũng nghèo. Cái bên trong và cái bên ngoài ở trong sự hòa điệu hoàn hảo- cả hai đều nghèo! Đó là lý do tại sao bạn thấy sự mãn nguyện trên khuôn mặt người Ấn, đó không phải là sự mãn nguyện thực thụ. Và do vậy, người ta đã trở nên quen với việc nghĩ rằng sự nghèo nàn có cái gì tâm linh trong nó.
Sự nghèo nàn được thờ phụng tại Ấn Độ. Đó là một trong những lý do tại sao tôi bị kết án một cách liên tục, bởi vì tôi không ủng hộ bất cứ sự nghèo nàn nào. Sự nghèo nàn không phải là tính tâm linh, sự nghèo nàn là nguyên nhân gây ra sự biến mất của tính tâm linh.
Tôi muốn thế giới trở nên giàu có càng nhiều càng tốt. Người ta càng giàu có, họ càng trở nên tâm linh. Và cả khi đó sự mãn nguyện thực thụ mới có thể khởi lên.
Khi bạn có thể tạo ra sự giàu có bên trong, thì sự hòa điệu lại xuất hiện – sự giàu có bên ngoài gặp sự giàu có bên trong- rồi, có sự mãn nguyện thực thụ. Khi sự nghèo nàn bên ngoài gặp sự nghèo nàn bên trong, thì có sự mãn nguyện giả dối. Sự hòa điệu là khả dĩ trong hai cách này. Cái bên ngoài và cái bên trong hòa điệu, và người ta cảm thấy mãn nguyện. Ấn Độ có vẻ mãn nguyện bởi vì có sự nghèo nàn ở hai phía của hàng rào.
Phương Tây bắt buộc phải quan tâm đến thiền định , không có cách nào để tránh nó. Đó là lý do tại sao Kyto giáo đang đánh mất ảnh hưởng của nó trên tâm trí phương Tây, bởi vì Kyto giáo chưa phát triển khoa học thiền định trên bất cứ phương diện nào. Nó vẫn còn là một tôn giáo rất tầm thường; Do thái giáo cũng vậy.
Phương Tây nghèo nàn khi những tôn giáo này được sinh ra, đó là lý do. Cho tới lúc đó, phương Tây đã sống trong nghèo nàn. Do Thái giáo, Kyto giáo, và Hồi giáo- tất cả ba tôn giáo Phi Ấn Độ này, đều được sinh ra trong sự nghèo nàn. Chúng không thể phát triển những kỹ thuật thiền định, không có nhu cầu. Chúng vẫn còn là những tôn giáo của người nghèo.
Bây giờ phương Tây đã trở nên giàu và có một chênh lệch, cách biệt.
Những tôn giáo phương Tây đều được sinh ra trong sự nghèo khó; chúng không có gì để tặng cho những người giàu. Đối với những người giàu, chúng nom có vẻ trẻ con, chúng không mang lại thỏa mãn. Chúng không thể làm thỏa mãn. Những tôn giáo phương Đông được sinh ra trong sự giàu có; đó là lý do tại sao tâm trí phương Tây đang trở nên ngày càng quan tâm đến những tôn giáo phương Đông. Vâng, tôn giáo của đức Phật đang có ảnh hưởng lớn; Zen đang lan rộng như lửa cháy rừng. Tại sao? Nó được sinh ra từ sự giàu có.
Có một sự tương đồng to lớn giữa tâm lý học phương Tây của con người hiện đại và tâm lý học của Phật giáo. Phương Tây ở trong trạng thái tương tự như của đức Phật khi Ngài trở nên quan tâm đến thiền định. Đó là cuộc tìm kiếm của một người giàu. Và cũng là trường hợp của Ấn độ giáo, cũng là trường hợp của jaina giáo. Ba tôn giáo lớn này của Ấn Độ đều được sinh ra từ sự giàu có; do vậy, phương Tây nhất thiết phải bị hấp dẫn bởi những tôn giáo phương Đông này.
Phương Đông đang mất liên hệ với những tôn giáo của chính mình. Ấn Độ không thể nào hiểu được đức Phật - nó là một đất nước nghèo. Thực ra, những người Ấn nghèo đang cải đạo sang Kyto giáo. Những người Mỹ giàu đang cải đạo sang Phật giáo, Ấn Độ giáo, Vedanta - và những người “tiện dân”, những người nghèo nhất của Ấn Độ, đang trở thành những người Kyto. Bạn có thấy cái điểm then chốt này không? Những tôn giáo này có một hấp dẫn nào đó đối với người nghèo. Nhưng chúng không có tương lai nào cả, bởi vì không sớm thì muộn, toàn thế giới sẽ trở nên giàu có.

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

Nhớ Trường xưa

Mình quen anh Tuấn từ năm 1994 khi học chung một lớp cử nhân Anh văn tại chức đầu tiên của Đại học Đà Lạt. Khi ấy anh là giám đốc một công ty về thủy lợi ở Huyện Đức Trọng còn mình đang là giáo viên Vật lí một trường cấp 3 ở Đà Lạt. Chẳng biết vì cái duyên gì nhưng từ bấy đến nay mình xem anh như một người anh trong gia đình, đồng thời là một người bạn vong niên. 
Suốt thời gian cùng học và ngay cả sau này khi anh là giám đốc Sở Giao Thông rồi nghỉ hưu, mình luôn xem anh là tấm gương về học hành, nỗ lực.
Anh Tuấn gửi bài này cho mình đã lâu nay mới đọc được, càng mến phục anh hơn vì những cố gắng miệt mài trong khốn khó từ thuở nhỏ. 
----------------------------------------------------
 

                                                 Sông Trà Bồng - Quảng Ngãi
 
Tôi được vào học ở Trường Phan Đình Phùng, Trà Bồng như một sự may mắn tình cờ, như sự đưa đẩy của số phận mà đã giúp một cậu bé nghèo nàn, đã bỏ học vài năm vì không thể nào đủ tiền để theo học Trung học, trở thành một người đỗ đạt, thành công trong học tập và có cơ hội cống hiến sau nầy.
 Chính Trường Phan Đình Phùng,Trà Bồng, nơi dù chỉ được học có 2 năm Đệ Thất và Đệ Lục ( Lớp 6, lớp 7 bây giờ) đã tạo cho tôi một bước ngoặt trong cuộc đời, cho tôi cơ hội lớn để thay đổi số phận mình. Việc học tập và vươn lên trong nghèo khó của tôi nhiều bạn biết, nhưng nay, nhân ngày kỷ niệm 50 năm Trường Phan Đình Phùng, Trà Bồng (1963-2013), tôi viết ra đây để cùng các bạn ôn lại kỷ niệm xưa và cũng để tỏ lòng tri ân, kính gửi tới quý Thầy Đào Ngọc Luy, Phạm Phi, Trần Điệu, ba người Thầy kính yêu đã dạy dỗ, giúp đỡ  chúng ta ở ngôi trường tuy mới thành lập, thiếu thốn mọi thứ nhưng rất hiệu quả trong giáo dục, đào tạo nầy. Xin cầu chúc cho Thầy Đào Ngọc Luy, Thầy Phạm Phi được dồi dào sức khỏe, hạnh phúc trong tuổi già và xin cho Thầy Trần Điệu được siêu thoát. Tôi cũng xin gửi lời cầu chúc sức khỏe đến gia đình các bạn cùng lớp, cám ơn tất cả các bạn đã dành cho tôi nhiều tình cảm ưu ái trong lúc tôi và gia đình hành nghề sửa xe đạp để mưu sinh tại xã Trà Xuân (Trà Khương xưa). Tôi xin đặc biệt cám ơn hai bạn Trầm Thế Phùng và Đặng Phi Hổ, những người bạn thân yêu đã giúp tôi tự khẳng định được mình. Có lẽ chúng ta đã là bạn bè của nhau trong nhiều tiền kiếp cho nên đến kiếp nầy, chỉ bằng vài hành động hay lời nói, các bạn đã giúp cho tôi một cơ hội tuyệt vời, thật như Nguyễn Bính đã viết:
Ai biết thương nhau từ buổi trước,
Bây giờ gặp nhau trong phút giây.
                   ( Hành phương Nam, Nguyễn Bính).
Tôi tên thật là Hứa Minh Tuấn, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1948 tại quê mẹ, Làng An Thọ, Xã Tịnh Sơn, Huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Quê cha ở Xóm Mỹ Yên, Thôn Thọ Lộc, Xã Tịnh Hà, Huyện Sơn Tịnh. Cha tôi thời thuộc Pháp, học làm công nhân ở Trường Bách nghệ, Huế. Ra trường làm người lái tàu lửa trong ngành đường sắt, đoạn Tháp Chàm- Đồng Hới, sau chuyển qua ngành đường bộ lái xe lu và điều hành công việc sửa chữa, dặm vá đường. Thời kỳ kháng chiến về làm thợ máy ở Xưởng  sản xuất giấy ở thôn Phú An, Xã Đức Hiệp, Mộ Đức. Về già, trở về quê cũ ở Mỹ Yên, làm nghề rèn, sửa xe đạp và các việc linh tinh mà bà con nông dân trong thôn, xóm cần. Cha tôi là con út trong một gia đình có mười một người con. Chị ruột của Ông là Bà nội của Thầy Lê Ngọc Bửu (Thầy Bửu, niên khóa 1958-1959, là Hiệu trưởng Trường Tiểu học Trà Khương, và là tác giả bài thơ: Hương quyến luyến, viết về Trà Bồng mà các bạn đều được học khi học ở Tiểu học với Thầy). Cha mẹ của Thầy Lê Ngọc Bửu là những trí thức tuyệt vời. Tuy là cậu, cháu nhưng cha tôi và cha Lê Ngọc Bửu là hai người bạn thân vì tuổi tác không chênh lệch nhiều mà tính tình lại hợp nhau nữa. Cha tôi làm công nhân, ít học nhưng cha, mẹ Bửu là những trí thức, học cao, hiểu rộng, nghệ sỹ đa tài, giỏi ngoại ngữ, giỏi âm nhạc; chồng đệm đàn cho vợ hát rất hay. Cha tôi chính là người Thầy đầu tiên đã truyền cho tôi ngọn lửa khát vọng học tập, vươn lên. Những đêm Trăng sáng hoặc những đêm Trời mưa rả rích, cha con tôi cuộn nhau, bên hiên nhà của ai đó, trên đường đi làm ăn xa vì ở quê bây giờ ít việc làm quá, cha tôi thường kể cho tôi nghe về gia đình của Bửu, với một tấm lòng ngưỡng mộ. Tôi lớn lên thì cha của Bửu đã mất nên tôi chưa được gặp anh, chị bao giờ nhưng hình ảnh và tầm vóc văn hóa lớn lao của anh chị đã thấm vào người tôi, hình thành nên nhân cách của tôi, mà ngay cả nếp nhà của tôi sau nầy, những quan niệm về giáo dục con cái, cũng là nguyên mẫu của gia đình anh chị tôi ngày xưa, theo lời kể của cha, đã thấm vào huyết quản của tôi tự thuở thiếu thời.
Nhà tôi có 3 anh chị em. Chị hai tôi lớn hơn tôi 15 tuổi, học nghề Cô Đỡ ở Trường Y tế Cộng đồng Huế, về làm Bà Mụ ở các Bệnh xá Quận Đức Phổ, Trà Bồng. Tôi và một đứa em trai, nhỏ hơn tôi 4 tuổi. Nhà tôi ở sát bên đường cái quan từ Sơn Tịnh chạy lên Sơn Hà. Nhà có lò rèn và sửa xe đạp. Cha con tôi làm thuê đủ thứ để kiếm sống, nói chung là ai thuê gì cũng làm, từ việc hàn cái nồi đồng thủng đít cho tới việc sửa cái thùng thiếc, gánh nước bị hỏng. Khi rèn, cha tôi làm thợ cái, cầm búa nhỏ, còn tôi làm thợ phụ, cầm búa tạ. Tôi vừa leo lên dàn, thụt bễ vừa leo xuống, quai búa. Thoăn thoắt. Hễ cha tôi đập cái búa nhỏ của ông lên miếng sắt đã nung đỏ, kẹp bằng kèm đặt trên đe, thì lấy sức tôi quai búa tạ vào, làm cho miếng sắt dẹt ra, dần hình thành ra cái rựa, hay cái lưỡi liềm, lưỡi cuốc. Âm thanh hai chiếc búa đập xuống đe như thi đua nhau, quyện vào nhau, tạo thành một dãy âm thanh nghe vui tai, nhưng những người tạo ra những tiếng động vui tai ấy thì đờ đẫn, phờ phạc. Làm cả ngày như vậy mệt lắm, nhưng thu nhập vẫn không là bao. Vậy mà, có lần, nghe mấy thanh niên, vừa cởi xe đi bên đường, vừa la to, khoan khoái:
                   “Cốc cốc, cheng cheng,
                   Cốc cốc, cheng cheng.
                   Mầy cục, tao cục,
                   Mầy cục, tao cục.
                   Cha cục, con cục,
                   Cha cục, con cục.
                   Còn đập, còn nấu,
                   Hết đập, hết nấu!
                   Cốc cốc, cheng cheng.”
Cha tôi nghe vậy thì chửi ầm lên, giận dữ, nhưng tôi thì buồn lắm. Tôi chỉ muốn được đi học, học để thoát khỏi cảnh nghèo hèn nầy.
 Sau khi tốt nghiệp Tiểu học năm 1960, tôi thi vào lớp Đệ Thất Công lập Trần Quốc Tuấn nhưng không đậu, tôi học lớp Đệ Thất ở Trường Tư thục Chấn Hưng được vài tháng thì nghỉ học, vì không có tiền đóng học phí. Tôi ở nhà làm nghề, phụ cha tôi, được một thời gian rồi sau đó đi học nghề sơn xe đạp tại Đức Phổ, để tăng thêm thu nhập. Chị Hai tôi, hồi nhỏ cũng là người học giỏi, tặng tôi cuốn sách:  Tự học để thành công của Nguyễn Hiến Lê, dường như để khuyến khích và an ủi tôi. Tôi luôn đọc và nghiền ngẫm cuốn sách; mơ mộng, ước ao có được sự thành công trong học tập như tác giả cuốn sách. Đây là người Thầy thứ hai của tôi. Tuy tôi chưa gặp Ông bao giờ nhưng cuốn sách của Ông đã dạy tôi cách học, cách sắp xếp, tổ chức công việc theo khoa học. Cả đời tôi đọc sách của Ông và nhớ ơn Ông, tôi tự xem mình là một học trò nhỏ của Ông.
Tôi đến Trà Bồng vào năm 1962, để mở tiệm sửa xe đạp, nhờ sự giúp đỡ của anh chị tôi, để kiếm tiền giúp đỡ gia đình vì ở Tịnh Hà lúc đó, công việc làm ăn hoàn toàn bế tắc. Năm đó, tôi 14 tuổi, thằng em tôi, 10 tuổi, cùng đi với tôi, nhưng đêm nào nó cũng khóc vì nhớ mẹ. Tôi chẳng nhớ ai, tôi chỉ nhớ những cuốn sách của tôi mà thôi. Nguyễn Trãi đã viết: Thư trung hửu nữ nhan như ngọc (Trong sách có người thiếu nữ mặt đẹp như ngọc). Lúc đó thì tôi chưa biết câu nầy, sau nầy lớn lên, trở thành con mọt sách, tôi mới biết nhưng thực sự câu thơ đã diễn tả đúng tâm trạng của tôi lúc đó.
 Anh chị tôi giúp tôi thuê cái quán của anh Sáu Dặm, gần chợ Trà Lơm, để có chỗ sửa xe đạp. Công việc khá trôi chảy, thu nhập khá lắm vì ở Trà Bồng lúc đó chỉ có vài tiệm thôi, mà tôi thì rất thạo nghề. Cái quán của tôi, nằm sát căn nhà của Trầm Thế Phùng. Một hôm, tôi nghe Phùng học ngoại ngữ. Tôi lắng nghe, không phải tiếng Pháp vì tôi đã học vài tháng tiếng Pháp nhưng không nhận ra từ nào. Tôi qua xem Phùng học. Thì ra Phùng đang học cuốn: Let’s Learn English (Nào chúng ta hãy cùng học Tiếng Anh). Cuốn sách màu xanh, hấp dẫn. Tôi như nghe có một ngọn lửa bùng lên trong tim. Tôi mê mẫn tâm thần, đưa tay chụp lấy cuốn sách, định cầm lên. Bị Phùng chận lại:
“Tay mầy dơ quá, mầy về rửa tay đi.”
Đúng là tay tôi đầy dầu mỡ. Tôi về rửa tay tức thì và trở lại, mân mê cuốn sách một cách say sưa.
 Tôi năn nỉ Phùng:   “Mầy dạy tao học với nghe.”
“Nếu mầy muốn học thì lên trường xin học, tao làm sao dạy mầy được.”, Phùng trả lời.
Không đợi bạn nói gì thêm, tôi qua cái quán tạp hóa bên kia đường, mua hai cuốn vở và hai cây bút bi, một bút đỏ và một bút màu xanh. Trở về, tôi mượn cuốn sách của Phùng, vừa chép vừa học và tự giải bài tập. Nhờ Phùng đọc cho nghe rồi bắt chước đọc theo. Chữ nào, Phùng không đọc được, thì tôi tự nghĩ ra cách đọc, lai lai tiếng Pháp, cốt yếu là nhớ mặt chữ đã, rồi tính sau! Ban ngày tôi sửa xe, lúc không có khách, thì rửa tay rồi đem vở ra học. Vừa sửa xe, vừa lẩm nhẩm trong đầu những từ vừa mới học.
 “Mầy lầm bầm cái gì đó, mầy?”

Có nhiều ông khách đang sửa xe, la to lên như vậy vì không biết tôi đang lảm nhảm cái gì!
Tôi học như vậy cỡ một tháng thì tôi cảm thấy mình đã giỏi hơn Phùng rất nhiều! Tôi quyết định đến gặp Thầy Hiệu trưởng xin học. Tôi nhờ anh rể tôi dẫn đến gặp Thầy Đào Ngọc Luy ở Trường. Thầy tiếp hai anh em tôi ở ngoài hành lang. Anh tôi vốn ít nói nên sau mấy lời mở đầu, giới thiệu tôi với Thầy Luy, anh ấy đi làm việc. Đấy là một buổi chiều rất định mệnh đối với cuộc đời tôi.
 Thầy bảo tôi: “Thôi để sang năm, niên khóa tới, thầy sẽ nhận em vào học. Bây giờ trễ quá rồi, các bạn sắp thi rồi, nhất là môn tiếng Anh, làm sao em theo kịp. Thôi sang năm nghe.”
Tôi nghe như vậy lòng bồn chồn. Tôi như người đang chới với giữa dòng, đang chờ chực sự cứu vớt của Thầy.
“Thưa Thầy, Thầy thông cảm cho em vào học. Năm nay, em 15 tuổi rồi, sợ sang năm không có lớp và cũng không còn tuổi đi học nữa. Thưa Thầy, em sẽ cố gắng hết sức để theo kịp các bạn.”
 Tôi năn nỉ Thầy một cách tha thiết. Dường như sự sợ hãi, tuyệt vọng, nếu bị Thầy từ chối nhận vào lớp đã thôi thúc tôi.
“Không được, em ơi. Em sẽ không học nỗi môn Tiếng Anh đâu.” ,Thầy nói.
“Thưa Thầy, Em sẽ học giỏi môn tiếng Anh.”, Tôi mừng rỡ trả lời.
 Thầy cười với hai hàm răng trắng, miệng rộng thanh tú, toát lên vẻ độ lượng, đôn hậu, thương yêu khi nghe câu trả lời đầy tự tin của tôi.
“Em học tiếng Anh ở đâu, với ai mà em dám bảo là em sẽ học giỏi môn tiếng Anh?”
 Thầy hỏi tôi, cặp mắt nheo nheo, hóm hỉnh.
“Thưa Thầy, em học theo bạn Trầm Thế Phùng.”, Tôi tự tin, trả lời.
Thầy cười ngất. Một tràng dài, vẫn nhìn tôi với cặp mắt đôn hậu.
“Trời ơi! Cái trò Phùng học tiếng Anh đã không muốn nỗi rồi mà em còn là học trò của trò Phùng nữa thì làm sao mà em theo kịp lớp.”, Thầy vừa cười vừa trả lời.
“Thưa Thầy, vậy Thầy làm ơn, cho em học thử một tuần. Một tuần thôi. Một tuần đó nếu Thầy kiểm tra mà em không theo kịp, em sẽ xin nghỉ, sang năm em xin học lại.”. Khát vọng học tập, thôi thúc tôi thuyết phục Thầy.
“Thầy xúc động quá. Trong đời dạy học của Thầy, chưa có học sinh nào, xin Thầy cho học thử cả, em là người đầu tiên. Thầy đồng ý cho em vào học thử một tuần, nếu không theo kịp, thì em hãy nghỉ, sang năm học nghe Tuấn!”, Thầy bảo vậy.
 Khi Thầy nhắc tên tôi nghe Tuấn, tôi nghe như có cả tình thương gói bên trong lời dạy của người anh dành cho em, của người mẹ dành cho đứa con thương yêu của mình.
Rồi Thầy gọi Thầy Trần Điệu đến và dặn kiểm tra môn văn, chính tả của tôi. Thầy Điệu bảo là tới giờ cả lớp viết Chính tả rồi, Thầy đề nghị cho tôi vào kiểm tra luôn. Thầy Luy đồng ý. Vậy là tôi được tạm thời vào lớp. Sau khi Thầy Điệu giới thiệu tôi với lớp và nói rõ lý do cho tôi tham gia kiểm tra môn Chính tả, Thầy bố trí tôi ngồi một bàn riêng, ngay trước mặt Thầy. Thầy cho tôi một tờ giấy đôi, rồi quay ra cả lớp dặn chuẩn bị viết Chính tả. Tôi không cảm thấy lo lắng gì vì tôi vốn giỏi môn văn từ nhỏ, lại hay đọc sách báo và rèn luyện chữ viết, tự hào về chữ viết của mình! Bài chính tả hôm đó, đích thân Thầy Trần Điệu chấm cho tôi. Thầy khen chữ tôi đẹp. Thầy chấm không lỗi và cho 20/20 điểm. Thầy trình kết quả với Thầy Luy. Thầy Luy vẫn nhìn tôi cười với hàm răng trắng, cái miệng rộng, đầy độ lượng.
“Ngày mai, tới phiên Thầy kiểm tra môn tiếng Anh, nghe Tuấn!”, Thầy dặn tôi.
Tối hôm đó, tôi mượn cuốn sách tiếng Anh của Phùng để ôn thêm. Thực ra, chỉ là để cho an tâm, chắc ăn thôi, chứ mọi thứ tôi đã thuộc nằm lòng rồi. Hôm sau, cái ngày dễ thương vô cùng trong đời tôi. Khỏi phải nói là Thầy Luy khen tôi trước lớp như thế nào về tinh thần ham học, tự học. Thầy cho tôi điểm tiếng Anh 20/20 và chính thức nhận tôi vào lớp ngay từ buổi sáng hôm đó, không cần đợi học thử một tuần nữa. Từ đó về sau, tôi luôn luôn đứng đầu lớp. Cả hai năm Thất, Lục, tôi đều nhận phần thưởng thứ Nhất. Cũng trong năm Đệ Thất đó, tôi đổi tên thành Hứa Văn Tuấn, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1950, do sự giúp đỡ của Bác Lục sự già ở Quận Sơn Tịnh (nay là Huyện Sơn Tịnh) để đủ tuổi thi Tú tài sau nầy.
Tôi còn hai người Thầy, hai tấm gương sáng trong tự học, tự vươn lên nữa.
Một người là Thầy Lê Ngọc Bửu (tác giả bài thơ Hương quyến luyến, viết năm 1959, tại Trà Bồng mà nhiều bạn thuộc!). Cha Bửu với tôi là anh em cô cậu nên Bửu gọi tôi bằng chú. Tuy là cháu nhưng Bửu lớn tuổi hơn tôi nhiều và lại là Thầy Hiệu trưởng. Khỏi phải nói, Cha tôi rất thương Bửu, Bửu là niềm tự hào của Ông và như thế, Bửu đã trở thành thần tượng và là Thầy của tôi từ lúc nào, dù Bửu chẳng dạy tôi ngày nào. Khi Cha mất sớm, Bửu sống với bà nội, vừa chăn bò vừa cầm sách tự học. Hồi nhỏ tôi ngưỡng mộ Bửu bao nhiêu nhưng sau nầy, chứng kiến những công trình của Bửu, làm thơ, dịch thơ, viết sách dạy tiếng Anh, đều do tự học cả, thì tôi vô cùng thán phục Bửu. Bửu là một người tài thực sự. Người nữa là anh con dì ruột tôi, anh Nguyễn Tấn Ích. Anh vào Sài Gòn, vừa làm thợ may, vừa tự học. Nay anh là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, ở hải ngoại. Tôi nhớ ơn Anh vì Anh đã truyền cho tôi ngọn lửa. Cứ mỗi lần, Anh về thăm quê thì Anh đều ghé thăm Cha mẹ tôi. Mỗi lần như thế, Anh đều cầm tập vở của tôi lên và tấm tắc, khen ngợi.
 “Dượng ơi, dượng! Em Tuấn, nó viết chữ đẹp quá, viết văn hay quá, sao dượng không cho em tiếp tục việc học, uổng quá vậy dượng?”
Mỗi lần như vậy, Cha tôi đều thở dài buồn bã, thực ra thì Ông rất muốn cho tôi đi học, muốn lắm chứ, muốn với khát vọng cháy bỏng, nhưng không biết làm sao, lấy tiền đâu ra?
Cuộc đời ta, có khi chỉ vì một câu nói, một lời góp ý chân thành nào đó mà sẽ giúp ta đưa ra được những quyết định quan trọng, làm ảnh hưởng đến cả cuộc đời sau nầy. Cuộc đời tôi là như vậy. Hôm anh rễ tôi đưa tôi đến nhà anh Sáu Dặm, ở Trà Bồng, để xin thuê cái quán của anh mở tiệm sửa xe như tôi đã kể ở trên. Anh nói với anh tôi:
“Thằng em nầy, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú quá, sao không cho học văn hóa mà để đi sửa xe đạp, uổng quá!”
 Anh tôi giải thích với anh là do nhà nghèo quá, không có tiền đi học.
 Lời góp ý của anh Sáu Dặm như những giọt mưa cuối mùa, tưới vào mảnh đất tâm hồn khô cằn, nắng hạn đang mong chờ từng giọt nước của tôi, nó làm nẫy lên, những mầm mống khát khao, học tập đang bị chôn vùi, qua năm tháng, như hạt bắp đang chờ cơn mưa trên cánh đồng khô hạn. Xin đội ơn anh Sáu, xin cho Anh được an nghỉ.
Sau hai năm học ở Trà Xuân và Trà Phú ( Xưa là Trà Khương và Trà An) Trường đóng cửa vì lý do chiến sự. Thực ra, Trường Phan Đình Phùng, Trà Bồng, cũng chỉ mở cửa tạm thời thôi vì nó chưa hề có Quyết định thành lập chính thức. Việc nầy làm cho học bạ hai năm Thất, Lục của chúng tôi không được phê duyệt. Sau khi Trường nghỉ, chỉ có một số ít học sinh có đủ điều kiện xuống Thị xã Quảng Ngãi tiếp tục việc học, còn đa số đều phải nghỉ học. Trong số những học trò bỏ dỡ việc học có tôi. Tôi ở lại Trà Bồng tiếp tục sửa xe đạp cùng Cha tôi. Công việc bây giờ ít lắm, đời sống vô cùng khó khăn, thiếu lương thực trầm trọng. Tôi lại bàn với Cha tôi, gom cho tôi ít tiền, để tôi vào Sài Gòn, kiếm nghề khác học, nhằm có thu nhập khá hơn, như nghề sửa Radio chẳng hạn, chứ cái nghề sửa xe đạp bây giờ khó sống quá. Cha tôi đồng ý. Tôi gom được một ít tiền làm lộ phí và xin đi nhờ máy bay quân sự xuống Quảng Ngãi. Lúc nầy, các bạn Đặng Phi Hổ, Đặng Thái Quang đang học Trường Chấn Hưng mới, trên đường Hùng Vương, và tạm trú trên nhà của chú Bùi Công Khanh, gần Ga An bố. Tôi ghé qua đó, ở nhờ một đêm, và nhân tiện, mời các bạn đi uống nước, để hôm sau tôi lên đường tìm nghề để học.
 Ra khỏi quán giải khát, Hổ cầm tay tôi, nói: “Thôi, tạm biệt mầy, kể từ ngày mai, mầy sẽ khoát áo công nhân, còn bọn tao vẫn khoát áo thư sinh!”
 Câu nói, hơi mang màu sắc cải lương nầy, tự dưng làm lay động lòng tôi, khơi dậy sự khát khao học tập đang bị cố chôn vùi mấy tháng nay do sự bế tắc về kinh tế.
“Nếu bây giờ tao muốn vào học với mầy thì Trường có nhận không?”, Tôi hỏi Hổ. “Được nhưng phải chịu ba điều kiện.”, Hổ trả lời.
“Điều kiện gì?”, Tôi hỏi.
“ Thứ nhất là phải nộp đủ học phí từ đầu năm đến nay. Thứ hai là phải tự lo việc phê duyệt học bạ hai năm Thất, Lục ở Trà Bồng, Trường nầy không chịu trách nhiệm. Thứ ba là phải lo học vì năm nay, Đệ Ngũ, khó lắm, Quỹ tích khó quá, tụi tao học từ đầu năm mà theo còn không muốn nỗi huống hồ gì mầy mới vào.”, Hổ đáp.
Tôi nhẩm số tiền mình mang theo. Đủ nộp học phí từ đầu năm đến nay cho Trường, còn dư chút đỉnh. “Mầy có thể nói giúp với Ông bà chủ nhà cho tao ở tạm và ăn cơm vài tháng rồi tao trả tiền sau được không?”, Tôi nhờ Hổ.
“ Tao nghỉ là được vì Ông bà chủ chứa học sinh cho vui nhà thôi chứ không phải vì tiền vì Ông chủ là Thầu khoán.”, Hổ trả lời.
 “Vậy ngày mai tao vào nộp tiền và đăng ký học cùng lớp với mầy, tao không đi Sài Gòn nữa.”, Tôi quyết định.
“Vậy thì tốt.”, Hổ đáp.
Tôi nhớ ơn Đặng Phi Hổ. Hổ là đứa học trò thông minh, nghệ sĩ, luôn vì bạn bè, dễ tính, dễ gần, luôn giúp đỡ bạn bè. Hổ chơi đàn hay, hát hay. Khi còn học ở Trà Bồng, nhiều lần hai đứa ôm nhau ngủ, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, rồi cùng nhau cười ha hả, vui sướng vô cùng.
Tới đây, tôi cũng xin cảm tạ Cô Chú Bùi Công Khanh, đã giúp đỡ tôi rất nhiều.
Mới đầu, vào học Đệ Ngũ, khó quá, học không muốn nỗi, được Thầy Châu, một vị Thầy già nghiêm khắc, xếp tôi vào hạng đội sổ của lớp. Tôi không hề nản chí. Tôi học gấp ba, bốn lần các bạn khác. Các bạn ngủ tôi vẫn học. Các bạn chưa thức, tôi đã thức dậy tự lúc nào và đang ngồi học. Nhờ vậy, có nhiều chuyện thật vui. Có lần Thầy Châu thấy tôi vươn lên tốp đầu trong lớp, Thầy kéo mục kỉnh xuống và la to lên.
“Cái trò Hứa Văn Tuấn nầy, mới vào, mấy tháng trước còn đội sổ, tháng nầy vị thứ 5, tại sao? có coi bài trò Hổ không đây?” Nói rồi Thầy gọi tôi lên bảng trả bài, tôi làm bài thông suốt, Thầy gật gật nhưng có vẻ chưa tin! Nhưng từ đó về sau cùng với Đặng Phi Hổ và nhiều bạn khác, tôi là một trò giỏi trong lớp.
Cuối năm đó, tôi chuyển vào Đức Phổ, thi vào Công lập trong Trường Bán công Lê Văn Duyệt, Đức Phổ, tôi đậu đầu nên không phải nộp học phí. Học ở Đức Phổ khá nổi tiếng nên tôi được một gia đình mời về làm gia sư, cho ở trong nhà, ăn cơm miễn phí để dạy cho con cái họ, trong đó có một người bạn học cùng lớp với tôi. Vừa có nhà ở, có cơm ăn lại không phải lo học phí nên năm này tôi học xuất sắc. Xin nhớ là đất Đức Phổ là đất học nên lớp tôi có rất nhiều bạn học giỏi nhưng tôi vẫn nhỉnh hơn. Cuối năm đó, tôi thi Trung học Đệ Nhất cấp để được nhận vào Trần Quốc Tuấn vì học bạ hai năm ở Trà Bồng, không được phê. Tôi đậu Bình Trung học Đệ Nhất cấp và được nhận vào Trường Trần Quốc Tuấn. Vừa làm Gia sư, vừa dạy kèm tôi đủ tiền ăn học. Hai năm sau, năm 1969, tôi đậu Tú tài 1, Hạng Bình, là một trong 7 học sinh đậu cao nhất ở Quảng Ngãi, không có người đậu Ưu.
Sau khi đỗ Tú tài 2, rồi tốt nghiệp Đại học Kỹ thuật Phú Thọ (nay là Đại học Bách Khoa TPHCM), tôi ra công tác ở Đà Lạt. Sau hơn 10 năm công tác, tôi có học bỗng học Thạc sĩ tại Đại học Roorkee, Ấn độ. Tôi tốt nghiệp Thạc sĩ, loại giỏi (First Division) nên tôi được Trường chấp thuận cho làm tiếp Tiến sĩ và, thực sự, tôi cũng có một cơ hội đi học ở Nhật nữa, nhưng năm đó, tôi đã 41 tuổi rồi, nghĩ thương vợ tôi, một mình nuôi con nhỏ, mẹ già, nên tôi đành thôi, ở nhà tự học, làm việc và nuôi dạy con cái. Đối với tôi, nàng thiếu nữ ẩn trong trang sách mà Nguyễn Trãi đã ví, luôn trẻ trung và hấp dẫn!
Năm nay, sau 50 năm, ngày đầu tiên đến với lớp học ở Trường Phan Đình Phùng, tôi trở lại thăm Trà Bồng xưa, cùng đi có vợ và con trai lớn của tôi, dự họp lớp cùng bạn bè 50 năm trước. Lòng tôi bồi hồi xúc động. Bạn cũ, nhiều người đã ra đi, có người mãi mãi nằm lại ở vùng xa xăm nào đó; Thầy cũ, người mất, người ở xa; cảnh cũ, giờ hiện đại quá đỗi, không còn bóng dáng của những căn phố nghèo, u tịch ngày xưa. Lòng tôi tràn ngập một nỗi buồn, hoài niệm về những năm tháng trên mãnh đất nầy, những con người năm xưa đã giúp tôi có được ngày hôm nay. Tôi nhớ ơn Trà Bồng và những ân tình bên trong mãnh đất Thiêng Liêng nầy! 
  
Viết tại Đà Lạt, ngày Rằm tháng Giêng năm Quý Tỵ 
(24 Feb 2013)

Hứa Văn Tuấn
(B14 Lý Nam Đế, P8, Đà Lạt).
Phone: 0913.865.043

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem

Những tấm poster sáng tạo này rất có hiệu quả khi đánh vào lương tri của người xem.

Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 5
Bạn có quyền sống theo cách mình chọn nhưng hãy làm kiểm tra HIV để chắc chắn an toàn. Vì khi bạn quan hệ với ai đó, nghĩa là bạn đang quan hệ với cả quá khứ của anh ta. Vốn dĩ chúng ta không rõ quá khứ ấy như thế nào?
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 2
Bằng cách sử dụng hình ảnh búp bê matryoshka, poster thể hiện tinh tế mà không kém phần mạnh mẽ thông điệp hãy chấm dứt tệ nạn buôn bán mại dâm trẻ em: "Mỗi lần bị đụng chạm, là một phần cơ thể của em bị cướp mất”
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 3
Cờ bạc cũng khiến người ta nghiện như thuốc lá, rất khó cai nghiện
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 13
Mỗi lần bạn uống thuốc không theo chỉ định của bác sĩ giống như bạn nuốt một viên đạn
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 6
Cố gắng kiểm soát tâm trạng của mình. Nếu không, bạn có thể làm con bị tổn thương nặng nề hơn bạn nghĩ rất nhiều
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 7
Quần áo cũ được xếp như một chiếc lò sưởi, dù chúng đã cũ nhưng vẫn có thể giữ ấm. Hãy tặng chúng cho những người cần
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 8
Những manh mối dù là nhỏ nhất mà bạn cung cấp sẽ giúp cơ quan điều tra tóm tội phạm
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 1
Không phải ai cũng có thể có những thứ cơ bản trong cuộc sống. Đây là poster của tổ chức phi chính phủ NGO chống nghèo đói ở châu Âu
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 9
Ở Ai Cập, có đến 2,7 triệu trẻ em không có tuổi thơ. Các em phải gánh trọng trách kiếm tiền và làm công việc như người lớn
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 10
Lửa không phân biệt một que diêm hay cả dãy nhà. Vì vậy, khi thấy dấu hiệu của hỏa hoạn hãy gọi ngay cho cứu hỏa
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 11
Có những cái lồng nhốt vô hình nhưng bạn luôn giữ chìa khóa thả tự do. Nếu bạn nhìn thấy, chứng kiến những nạn nhân bị ngược đãi, lạm dụng… hãy lên tiếng
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 14
San hô bằng thìa nhựa chẳng những không đẹp như san hô thật, mà còn tiềm ẩn nhiều hiểm họa. Hãy bảo vệ môi trường biển
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 15
Bãi biển không thể tự làm sạch mình. Hãy chung tay bảo vệ môi trường biển bằng cách thiết thực nhất là không xả rác bừa bãi
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 16
Hãy nhìn tất cả chỗ rác mà chúng ta thải ra hàng ngày. Nếu muốn Trái đất khỏe mạnh, cần phải tái chế rác thải
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 17
Cuộc sống của bạn dần mất đi theo từng làn khói thuốc
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 18
26.000 người vô tội trở thành nạn nhân bom mìn mỗi năm trong khi đang làm những công việc thường ngày. Poster nhấn mạnh nguy hiểm rình rập và giúp đỡ nạn nhân của bom mìn
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 19
Đôi khi dù phụ nữ không yêu cầu giúp đỡ không có nghĩa là họ không cần giúp đỡ. Bạo lực gia đình và nỗi đau của người phụ nữ cần được chấm dứt bằng sự chung tay của những người xung quanh
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 20
Màu da không bao giờ quyết định tương lai
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 21
Những loài động vật bị đẩy vào nguy hiểm đôi khi là do nhà của chúng đang bị phá hủy. Poster cảnh báo nạn phá rừng ở Trung Quốc đang đe dọa sự tồn tại của gấu trúc
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 22
Nếu không dùng, hãy tắt đi!
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 23
Quá trình sa mạc hóa khiến 6.000 loài động vật hoang dã biến mất hàng năm
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 25
Đối với một số người, cuộc sống này quá đắt đỏ. Hãy dang tay giúp đỡ và chia sẻ
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 26
Hãy dọn dẹp ngay phân của những chú cún khi bạn đưa chúng đi dạo, kẻo giày của bạn sẽ có nhãn hiệu mới
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 28
Dừng lại khi có tín hiệu đèn đỏ. Trẻ em cần được tập đương đầu với nguy hiểm trên đường tới trường
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 29
Poster cảnh báo cháy rừng. Hãy đảm bảo rằng bạn đã tắt thuốc trước khi bỏ nó đi
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 12
Bạn có thể chết trong giấc mơ nếu bạn đang mơ khi lái xe
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 24
Khi hai mí mắt cụp xuống, tai nạn có thể xảy ra. Hãy nghỉ ngơi thật tốt trước khi lái xe trên đường dài
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 4
Uống bia rượu rồi lái xe giống như chơi trò roulette (*) của người Nga. Với chỉ một ly, bạn có nguy cơ mất tất cả
Những poster nâng cao nhận thức cả thế giới nên xem 30
Âm nhạc có khả năng kết nối cộng đồng

(*): Trò chơi roulette của người Nga còn được gọi là cò quay. Luật chơi là sử dụng một khẩu súng lục ổ đạn quay, trong ổ đạn sẽ để 1 viên đạn, 2 người chơi sẽ lần lượt chĩa súng vào mình và bóp cò kẻ cuối cùng còn đứng là chiến thắng...
Tạ Ban
Theo Hongkiat
http://ihay.thanhnien.com.vn/pages/20130819/nhung-poster-nang-cao-nhan-thuc-ca-the-gioi-nen-xem.aspx

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

SUY NGẪM 4: TÌNH YÊU - TÌNH DỤC - THIỀN ĐỊNH



1. TÌNH YÊU - THIỀN ĐỊNH


   
     Rất dễ để suy nghĩ về tình yêu. Rất khó để có thể yêu thương. Rất dễ để yêu thương Chúa Phật, yêu thương toàn nhân loại. Khó khăn thực sự là: yêu thương một cá nhân nào đó, rắc rối sẽ xảy ra khi bạn đối mặt với một người chân chính.
     Anh ta sẽ không trở thành nô lệ của bạn và bạn cũng sẽ không trở thành nô lệ của anh ta. Đó là nơi rắc rối xảy ra. Nếu bạn chấp nhận làm nô lệ của anh ta hoặc nếu anh ta chấp nhận làm nô lệ của bạn, rắc rối sẽ không xảy ra. Rắc rối xảy ra vì không ai chấp nhận đóng vai trò nô lệ: mỗi người là một cá nhân độc lập, nhân loại là sự tự do.
     Chính mối quan hệ đưa bạn đến với những tình huống mà rắc rối xuất hiện ở đó. Thiên hạ bắt đầu tìm lối thoát. Ở phương Đông nhiều người đã tìm cách trốn chạy, chỉ vì họ nhận thấy những khó khăn rắc rối trong mối quan hệ này. Họ bắt đầu phủ nhận tình yêu của họ, cự tuyệt tình yêu của họ. Họ trở thành những người không có tình yêu và họ gọi đó là sự không lưu luyến. Dần dần họ trở thành những người vô cảm. Tình yêu gần như biến mất ở phương Đông và chỉ còn lại sự thiền định.
     Thiền định có nghĩa là bạn cảm thấy tốt trong sự đơn độc của bạn. Thiền định có nghĩa là bạn chỉ có mối quan hệ với chính mình. Dĩ nhiên lúc này bạn có thể tránh được chín mươi phần trăm rắc rối - nhưng bạn phải trả giá đắt. Bạn sẽ gặp ít rắc rối hơn. Người phương Đông ít lo lắng hơn, ít căng thẳng hơn, với đôi mắt nhắm nghiền. Và dường như họ thấy hạnh phúc với việc này. Nhưng niềm hạnh phúc này thực ra cũng chẳng khác nào cái chết. Niềm hạnh phúc của họ cũng chỉ là một niềm vui bé nhỏ.
     Cùng lắm thì bạn có thể nói rằng đó không phải là sư bất hạnh, cứ như thể bạn nói rằng bạn khỏe mạnh vì bạn không mắc bệnh. Nhưng đó không phải là sự khỏe mạnh. Sự khỏe mạnh phải mang dáng dấp của sự thăng hoa  - chứ không phải sự vắng mặt của bệnh tật. Nếu nói theo cách đó thì ngay cả một xác chết cũng khỏe mạnh vì nó chẳng mắc bệnh gì cả.
     Ở phương Đông người ta cố gắng sống không tình yêu, từ bỏ thế gian - đồng nghĩa với việc từ bỏ tình yêu - từ bỏ phụ nữ, đàn ông, và mọi khả năng để tình yêu phát triển. Các thầy tăng của Jaina giáo, Ấn giáo, Phật giáo, tất cả đều không được phép trò chuyện với phụ nữ khi họ ở một mình, không được phép chạm vào phụ nữ, không được phép nhìn thẳng vào mặt phụ nữ. Khi một phụ nữ tìm đến họ để hỏi han một điều gì đó, họ phải đưa mắt nhìn xuống chân mình. Vì ai biết được... họ có thể lạc lối trong tình yêu.
     Họ không ở nhà ai, họ không ở đâu lâu cả, vì nếu lưu luyến thế sự, tình yêu có thể xuất hiện. Thế nên họ không ngừng di chuyển và tránh né - tránh né mọi mối quan hệ. Họ đã đạt được mức độ an tĩnh nào đó trong tâm hồn. Họ là những người tĩnh tại, khó có thể bị xáo trộn tâm hồn, nhưng đồng thời họ cũng là những người không hạnh phúc. Vì thế mà đôi khi họ chợt nhận ra rằng "lòng chợt bình yên mà sao buồn thế"  (TCS).
     Ở phương Tây mọi việc diễn ra trái ngược. Người ta cố gắng tìm kiếm niềm hạnh phúc qua tình yêu, và họ đã tạo ra nhiều rắc rối. Họ đánh mất mọi sự liên lạc với chính mình. Họ đã đi quá xa chính mình và họ không biết làm thế nào để quay lại. Họ không biết lối đi ở đâu, nhà họ ở đâu. Thế nên họ cảm thấy vô nghĩa, và họ không ngừng quan hệ với người phụ nữ này, người đàn ông kia - tình dục khác giới, tình dục đồng giới, tình dục lưỡng giới. Họ không ngừng cố gắng mọi cách và họ cảm thấy trống rỗng, vì tình yêu có thể đem lại cho bạn niềm vui nhưng chỉ là nhất thời vì trong niềm vui đó không có sự yên tĩnh, sự bình yên.
     Khi bạn hành phúc mà không có sự bình yên thì niềm hạnh phúc của bạn sẽ giống như một cơn sốt, một sự kích động. Cơn sốt này sẽ tạo ra sự căng thẳng trong bạn và không gì tốt đẹp có thể xảy ra cùng sự căng thẳng, chỉ là việc trốn chạy và theo đuổi. Và một ngày nào đó bạn nhận ra rằng mọi cố gắng của bạn là thứ hão huyền vì bạn đã cố gắng tìm kiếm người khác, nhưng bạn không tìm được chính mình. Thế là họ bắt đầu chán đời, lại tiếp tục lạc lối trong vô vàn những cuộc tình khác, để rồi lại tự an ủi mình rằng "Dù thật lệ rơi, lòng không buồn mấy".
     Cả hai lối sống này đều thất bại. Người phương Đông thất bại vì họ thiền định mà không có tình yêu. Người phương Tây thất bại vì họ yêu đương mà không có sự thiền định. Thế thì một lối sống phù hợp nhất là sự kết hợp giữa hai lối sống này- thiền định kết hợp với tình yêu. Bạn cần phải vui cả khi ở lại một mình lẫn khi ở lại cùng mọi người . Bạn cần phải vui cả với chính mình lẫn với mọi mối quan hệ. Bạn cần phải có một khu vườn tuyệt đẹp bao quanh một chiếc giường ngủ êm ái.
     Thế nên: trước tiên hãy thiền định, vì đó là cách tốt nhất để hướng đến trung tâm điểm gần nhất trong tâm hồn bạn. Nhưng đừng bao giờ dừng lại ở đó. Thiền định cần phải thăng hoa và phát triển thành tình yêu.


2. TÌNH DỤC - THIỀN ĐỊNH
 

photo

      
      Nếu bạn đang  thiền định thì đừng làm tình, dù chỉ là trong suy nghĩ  thoáng qua. Nhưng nếu bạn đang làm tình thì rất nên chiêm nghiệm thiền định. Đó là một trong số những trạng thái tĩnh lặng và hài hòa nhất – khi đó bạn dẽ dàng tham gia chiêm nghiệm thiền định nhất.
     Khi bạn đến gần với trạng thái cực khoái, khi đó mọi suy nghĩ trong bạn dừng lại, khi đó chẳng ai hơi đâu nghĩ đến việc nuôi con gì trồng cây gì, bạn trở nên mạnh mẽ nhất. Nếu lúc đó bạn còn đủ tỉnh táo để chiêm nghiệm, quan sát, thì bạn sẽ quan sát được bất kì thứ gì trên đời này bởi tình dục là trải nghiệm mạnh mẽ nhất.
     Tình dục, nếu chỉ là tình dục, thì chỉ có thể tạo ra con cái, chỉ là hành động bản năng không khác mọi con vật khác. Nhưng nếu tình dục được kết hợp với việc chiêm nghiệm thiền định sẽ cho bạn một sự tái sinh, biến bạn thành một con người hoàn toàn mới! Thế thì bạn còn chờ gì nữa mà không bắt đầu ngay đi! Hi hi...