Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

ẤM ÁP MỘT BUỔI CHIỀU XỨ LẠNH

Xứ lạnh một chiều đầu năm Nhâm Thìn. Cái rét buốt dư âm mùa đông vẫn còn đậm đà lắm, bỗng dưng cả nhà lại quyết định đi "hạ nêu" trong khu biệt thự đường Lê Lai Đà Lạt, một quyết định tình cờ mà vô cùng sáng suốt.

Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975 rất nhiều biệt thự xây từ thời Pháp ở đường Lê Lai bị bỏ hoang phế hàng chục năm trước khi được một công ty thuê để cải tạo lại thành một khu resort 5 sao giữa rừng thông Cao Nguyên.

Kiến trúc của tất cả các biệt thự được giữ nguyên bản, các lối đi, công trình bên trong khuôn viên resort can thiệp tối thiểu đến cảnh quan môi trường. Điều đó làm cho các biệt thự có một vẻ riêng biệt, yên tĩnh và thật lí tưởng cho những du khách muốn tìm về với thiên nhiên lãng mạn, tránh xa cái ồn ào náo nhiệt chốn thị thành.

Một chiều lạnh nơi xứ lạnh nhưng cả nhà mình có một ngày chia tay tết thật  ấm áp nơi đây.

Cách một hẻm núi thôi, phía bên kia vẫn còn dấu tích hoang phế:

photo

May thay, những biệt thự phía  bên này đã được hồi sinh tráng lệ giữa rừng thông trong ánh hoàng hôn đầu xuân Nhâm Thìn:
photo


photo


photo


photo

Sẽ là thiếu sót lớn khi nói về Đà Lạt mà thiếu hoa. Thì đây, mọi lối đi dẫn vào biệt thự đều lung linh hoa:

photo

 Hoa sà cả vào bàn ăn:
photo


Nếu muốn, bạn có thể chiêm nghiệm với giọt nắng cuối ngày:


photo


photo
Bạn cũng có thể xuống hồ bơi nước ấm:
photo

Đến cả khi lên đèn, bạn vẫn cảm được hơi ấm tỏa ra từ các biệt thự:

photo


photo
Đà Lạt, ngày hạ nêu xuân Nhâm Thìn.

Ả LUÂN

Con kính tặng mạ
Tết vừa rồi tình cờ xem ti vi về một làng quê phía Bắc thấy cảnh người dân đi gánh nước giếng tự nhiên nhớ tới ả Luân, một cô hàng xóm cùng lối với mình. Định bụng viết cái gì đó về ả nhưng cả một núi công việc sau tết đến nay mới thư thư đôi chút để trả nợ tình quê.
Cách thị trấn Ba Đồn chừng ba cây số, làng Tân An của mình thuộc loại đẹp hiếm có, dân trong làng vô cùng tự hào với ngôi làng của mình. Có một anh trong làng đi Liên Xô về kể bên ấy có thành phố Lê Nin Gờ rát đẹp lắm, một người chậc lưỡi nói, è he đẹp cũng nỏ bằng Tân An Gờ rát. Thế là cái tên Tân An Gờ rát chết danh từ đó, tết gọi điện về quê bạn bè còn trách mình răng lâu ni không về làng, mi quên Tân An Gờ rát rồi à, hi hi.
Mặt tiền của làng hướng ra dòng sông Gianh với con đường dọc sông rợp bóng cây xanh và đỏ rực màu hoa phượng vĩ mỗi độ hè về. Phía sau làng là cánh đồng lúa xanh ngăn ngắt trải dài đến tận làng Pháp Kệ. Làng có bốn Chòm, từ chòm Một đến Chòm Bốn, giữa hai mặt của làng là những con đường nhỏ gọi là lối. Kiểu xưng hô với phụ nữ trong làng cũng lạ, cứ lớn hơn vài tuổi đến vài chục tuổi đều được gọi bằng ả (chị) hết, kịp đến khi thấy tóc bạc lưng còng thì chuyển sang kêu bằng “mệ”, ả Tuận, ả Mẹt Tác, ả Cu Chuyết, mệ Bộ, mệ Tá…
http://blog.yimg.com/1/rp7YYUB7s5_PBntUJKmaUUnebB3INymbgfy5LHLFlEfDSlFHVWEtTw--/27/o/yWl8xH_cKJXoupFimP.WiA.jpg
Sông Gianh thơ mộng
Nhà mình và nhà ả Luân ở trên cùng một lối của Chòm Ba nhưng nhà mình ở giữa còn nhà ả thì phía sau làng, quay ra cánh đồng. Ả Luân con ông mệ Ròn, ả hơn mình chắc chỉ độ vài tuổi, mình biết thế vì khi mình đang học cấp hai Quảng Thanh thì bạn bè ả đang học cấp ba Ba Đồn. Nói ả là con ông mệ Ròn nhưng nhiều người bảo ả là con riêng của ông Ròn còn ông mệ Ròn không có đứa con chung nào.
Ở tuổi mười tám đôi mươi nhưng trong kí ức của mình thì ả đã lớn lắm. Ả cũng chẳng được học hành gì, người thì bảo ả học không ra chữ, bao nhiêu năm đi học chỉ viết được mỗi chữ “Luân” rồi nghỉ học, người thì bảo mệ Ròn không cho ả đi học mà bắt ở nhà làm việc lại còn thường xuyên đánh đập chửi bới ả. Ông Ròn tuy cũng thương ả nhưng mải mê rượu chè đàn đúm chẳng mấy khi tỉnh táo, cứ chân nam đá chân chiêu ngã dúi ngã dụi bờ ao bụi chuối suốt ngày còn đâu thời gian mà quan tâm đến ả con gái nữa.  Nhà ở gần nên mình chứng kiến cảnh ả làm việc đầu tắt mặt tối, ngày nào cũng như ngày nào hết quần quật ruộng vườn lại đi gánh nước ngọt bán cho dân làng. Đôi khi có việc đi ngang qua nhà, mình còn nghe tiếng mệ Ròn la hét, tiếng roi quật và cả tiếng khóc cố nén của ả.
Thi thoảng mình có bắt gặp ả thơ thẩn một mình trên lối vắng, rất chậm chạp từ tốn như một vị thiền sư đang thiền hành, khác hẳn với những động tác nhanh thoăn thoắt khi ả làm việc. Và lần nào cũng như lần nào diện mạo của ả không thay đổi: bộ quần áo màu đen cũ kỷ với những quầng mồ hôi muối trắng trên lưng, chân không dép, một tay ngoáy tai, cái nón mê lật ra sau gáy bất kể trời mưa hay nắng. Điều gây ấn tượng cho mình nhất là ở nét mặt của ả, nó hoàn toàn vô cảm, không buồn không vui, không quan tâm đến ai không nhìn bất cứ cái gì xảy ra trên đường đi. Cứ thế, thong thả, từ từ ả bước đi như người mộng du, cứ như thể đó chỉ là cái xác đang bước còn linh hồn của ả đang phiêu diêu cực lạc ở một miền mộng tưởng nào đó.
Gặp ả trong trạng thái như thế mình cứ hơi rờn rợn. Đôi lần mình thử cất tiếng gọi “Ả Luân nời” thì ả vẫn cứ lừng lững bước như  không nghe thấy. Có lần mình gọi to tiếng đến lần thứ ba “Vơ ả Luân nời” thì ả có đáp lại bâng quơ “Chi rứa mi ?” trong khi vẫn vừa bước vừa ngoáy tai mà không hề quay đầu lại. Duy chỉ khi mình nói một câu, tựa như  câu thần chú vừng mở ra: “Ả gánh cho mạ tui gánh nước”  là ả quay đầu dừng lại ngay lập tức: “Rứa à? Khi mô”, “Chiều ni”, “ì, chiều tau gánh”. Đúng cuối chiều một gánh nước giếng Hướng Phương trong veo ngọt lịm gần như không sánh ra ngoài giọt nào được ả đổ vào vại nhà mình, không sai hẹn bao giờ.
Làng mình bên con sông trong xanh là thế nhưng quanh năm khổ sở về cái khoản nước ngọt. Nước sông thì mặn, bất cứ cái giếng nào được đào lên thì đều nược lợ, chỉ có thể dùng nấu nướng vài món. Không biết bây giờ thì sao chứ thời trước cả làng đều phải đi gánh nước uống tận giếng làng Thanh Sơn cách vài cây số hoặc xa hơn là tận làng Hướng Phương. Cứ sáng sớm hoặc chiều là trong làng lại í ới rộn ràng rủ nhau “đi nước”. Thời học cấp hai mình có tập tọng “đi nước” vài lần, thường là sau gần nửa ngày vừa đi vừa la cà mình cũng mắm môi mắm lợi đưa được hai cái thùng về nhà trút ra vừa được một chậu thau nước đục ngàu, có khi lẫn cả cá lia thia (cá đuôi cờ” do mình bắt dọc đường về chơi. Mỗi lần như thế mình cứ xem như là vừa lập một thành tích kinh khủng lắm, khổ thân mạ mình cứ chạy quắn lên lo bồi dưỡng cho thằng con giai làm lụng vất vả, hi hi. Đến thời học cấp ba Ba Đồn, viện cớ bài vở nhiều, mình thoát được cái cảnh “đi nước”. Mọi chuyện “nước non” trong nhà đều chuyển qua ả Luân, mỗi gánh năm hào.
photo

Làng Tân An bên Sông Gianh
Phải nói là mình phục ả Luân về cái khoản gánh nước vô cùng. Ả gánh gần như cho cả làng, ai có nhu cầu chỉ cần ới một tiếng là ả phục vụ ngay, theo đúng thứ tự đăng kí. Gánh này đến gánh khác, nhà này đến nhà khác không sót một ai, không nhầm lẫn bao giờ. Vào mùa tết có khi ả đi gánh từ gà gáy đến tận giao thừa không ngơi nghỉ. Đặc biệt cái dáng gánh nước của ả thì không lẫn vào đâu được, dẻo dai, thoăn thoắt, nhanh nhẹn, tung tăng cứ như nghệ sĩ múa, cứ như ả sinh ra để gánh nước vậy. Đứng trong làng nhìn ra bờ đê trong tấp nập bà con gánh nước mình luôn nhận ra gánh ả Luân tung tẩy trong ráng chiều trên bờ đê xanh cỏ. Cũng chỉ thế thôi, bộ áo quần màu đen có quầng mồ hôi muối trắng, chiếc nón cời lật ra sau gáy, đi chân không, nhưng hình như cái dáng gánh nước của ả có một vẻ đẹp riêng, một ngôn ngữ riêng. Có một dáng đứng Việt Nam của anh chiến sĩ trên đường băng Tân Sơn Nhất; có một dáng mẹ tận tụy cấy cày trên rẫy lúa nương khoai; có hình dáng thành thơ “bên hoa dáng người tình/ bên rau hình người vợ” thì cũng có dáng ả Luân mềm mại bên gánh nước ngọt cho dân làng Tân An Gờ rát của mình chứ, tại sao không?
Mấy lần mình định hỏi răng ả không trích tiền mua lấy bộ đồ tử tế với đôi dép để đi nhưng lại ngại nên thôi. Người ta bảo bao nhiêu tiền gánh nước ả đều phải nộp cho mệ Ròn hết, vài lần ả cũng đã ngỏ lời xin mệ rồi nhưng mỗi lần như thế đều bị ăn đòn, bị chửi bơi nên ả không dám hỏi xin nữa. Thực ra cũng có một lần, một lần duy nhất trong đám cưới anh Bàng-anh bà con của ả, mình thấy ả có mang đôi dép lê màu vàng, quần đen mới và cái áo pô-pơ-lin trắng. Trông ả hoạt bát lắm, chạy chổ này bưng cái kia, quát bọn trẻ con, chào hỏi người lớn rất tưng bừng. Sau cái hôm đám cưới thì mọi chuyện đâu lại vào đấy, bộ áo quần màu đen có quầng mồ hôi muối trắng, chiếc nón cời lật ra sau gáy, đi chân không, xác một nơi hồn một nẻo.
Mình có một kỷ niệm nhớ đời với ả. Ấy là đâu khoảng năm 76-77 gì đó khi mình đang học cấp hai. Thời ấy mới sau giải phóng một hai năm, trong trào lưu “Miền Nam nhận họ miền Bắc nhận hàng” mình cũng nhận được một chiếc xe đạp do ông chú trong Tam Kỳ gửi cho. Có thể nói không ngoa là khi ấy bỗng nhiên bà con miền Bắc có nhiều xe đạp hẳn lên là do miền Nam chi viện. Vì thế mà cứ chiều chiều là xuất hiện cái cảnh dân làng  rủ nhau đi tập xe đạp trên mọi con đường làng ngõ xóm. Cứ một người leo lên yên tập đạp thì thì có một hoặc hai người giữ phía sau rồi buông dần ra cho đến khi đương sự tự chạy được xe.
Một lần, mình rủ ả Luân ra đường cái quan đất đỏ (nối từ Ba Đồn lên Tuyên Hóa) tập xe đạp, ả vui vẻ nhận lời. Để chắc ăn mình rủ thêm thằng Sinh béo lớp trưởng của mình cùng đi. Hai thằng hì hục giữ xe cho ả tập đạp, vất vả lắm ả Luân cũng bắt đầu tự đạp xe được. Hai thằng cứ lẽo đẽo chay sau hễ thấy ả loạng quạng là giữ xe lại cho khỏi ngã. Đến một lúc thấy có vẻ yên ổn, mình và thằng Sinh không chạy theo nữa. Ai dè ả không thể dừng xe lại được, thì ra hai thằng huấn luyện viên xe đạp đoảng chưa hề hướng dẫn ả cách dừng xe, xuống xe. Kết quả là ả Luân muốn dừng xe nhưng chân thì cứ vẫn đạp rất đều đặn về phía Ba Đồn. Sợ quá, ả vừa guồng chân vừa khóc như mưa, người đi ngược chiều và cả bà con Quảng Phong đang làm ruộng thấy thế thì rất thông cảm, cứ nghĩ là chắc cô này đang trên đường đi thăm mẹ ốm nặng ở bệnh viện huyện. May thay đến gần cầu Kênh Kịa ả nhắm mắt húc thẳng vào một con trâu đang gặm cỏ bên vệ đường, con trâu bỏ chạy trối chết còn ả đứng dậy toét mồm cười phủi đít dắt bộ về.  Từ đấy ả cạch, mình rủ thế nào ả cũng không tập xe đạp nữa, he he.
Có một dạo, mình nhớ khoảng mùa hè khi mình vừa kết thúc lớp chín, bỗng nhiên trong làng rộ lên cái tin ả Luân có mang. Nghe nói mệ Ròn phát hiện ra ả hay trốn ra sau nhà nôn mửa, gặng hỏi kiểu gì à cũng không hé môi lấy một lời, chỉ cắn răng chịu đòn và nghe mệ nhiếc móc. Ả cũng trở nên mệt mỏi, mất đi cái nhanh nhẹn thường ngày, những chuyến “đi nước” của ả thưa dần. Thiên hạ nghi ngay cho lão mẹt Ngáo, nhà ở ngay bên phải nhà mệ Ròn. Mà nghi cho lão thì cũng phải, lão Ngáo người nhỏ thó, tướng đi khuỳnh khuỳnh, cặp mắt lão lúc nào cũng ngầu đỏ, suốt ngày chỉ thấy lão uống rượu và đi chim gái. Tướng tá trông thì xấu thế nhưng lão chim được ối gái trong làng suốt từ Chòm Một đến Chòm Bốn, thế mới tài. Hễ có mấy chén rượu vào là lão khoa chân múa tay nói toàn các kiểu mần tình. Đám thanh niên khoái lắm coi lão như thần tượng, đi đâu cũng thì thào lão Ngáo bảo thế này, lão Ngáo bảo thế nọ, cứ như lãnh tụ tinh thần, hi hi. Nói là gái cho oai thế thôi chứ lão quan niệm rất đơn giản, không cần phân biệt già hay trẻ, xấu hay đẹp miễn là thuộc giống cái, miễn là có cái...lỗ giữa hai chân là được, he he. Mấy lần làng xóm họp đưa lão ra kiểm điểm, nhưng rồi đâu lại hoàn đấy.
Chỉ tội cho ả Luân, sau cái sự cố ấy hình như đòn roi chửi rủa của mệ Ròn lại càng nặng nề hơn. Có điều lạ là chỉ nghe thấy tiếng mệ tru tréo, tiếng roi quật đen đét nhưng lại  ít nghe tiếng khóc của ả Luân hơn. Mọi người cũng ít khi nhìn thấy ả ra khỏi nhà như trước kia.
Đến lớp mười cuối cấp ba mình ở trọ hẳn Ba Đồn cho tiện việc học hành, chỉ thỉnh thoảng mới đạp xe về nhà xin tiền mạ. Mình cũng gần như quên bẵng đi chuyện ả Luân cho đến một hôm. Hôm ấy được nghỉ học sớm, cả nhóm bạn mình bèn rủ nhau đạp xe xuống phà Gianh chơi. Gọi là đi chơi thế thôi chứ cũng chẳng có gì mà chơi, cứ đạp xe nghênh ngang giữa đường, chọc gái, cà khịa đánh nhau hoặc xuống đi phà Gianh qua bờ bên kia mua mía ăn rồi quay về, thế thôi nhưng vui đáo để.
Ra giữ sông bọn mình đang khoa chân múa tay khua môi múa mép thì bỗng mình nhìn thấy dáng ai quen quen. Thì ra ả Luân. Ả đứng bên mạn phải của phà sát phía sau một chiếc ô tô, vẫn bộ đồ đen nhưng không có quầng mồ hôi muối trắng, cái nón mê lật ra sau gáy, chân đi đôi dép lê màu vàng, đôi dép ả đã đi trong đám cưới anh Bàng hôm nào, vai ả đeo cái tay nải bằng vải. Ả đứng đó mặt đăm đăm quay về phía làng Tân An, đôi mắt ậng nước. Ả đứng đó, rất thực không phiêu diêu xa vắng như bao lần mình gặp ả thẩn thơ trên lối xóm. Ả đứng đó, cả hồn và xác đều có mặt, và trên gương mặt khắc khổ đang chan chứa nước mắt ấy là hình ảnh một ả Luân hoàn toàn khác mà mình chưa hề bắt gặp, vừa buồn thương vừa quyết liệt.
Hơi ngạc nhiên nhưng không muốn  khuấy động ả, mình lẻn lên đứng phía đầu phà. Đó cũng là những hình ảnh sau cùng của ả Luân mà mình bắt gặp cho đến giờ. Cuối tuần ấy về làng mình nghe mọi người xôn xao cái tin ả Luân bỏ nhà đi đâu không rõ, ông Ròn tất tả đi tìm con mấy hôm nay mà không thấy. Mình quyết định không nói với ai về việc đã nhìn thấy ả Luân ở phà Gianh. Cho đến giờ thì mình vẫn thấy quyết định không nói của mình là đúng. Có thể ả đang trên đường tự đi tìm cho mình một cuộc sống mới, có thể ả sẽ sinh nở đâu đó rồi làm lụng rồi lại gánh nước kiếm tiền nuôi con lớn lên mà cảm nhận cái hạnh phúc rất thực trong tình mẹ con, quên đi cái quá khứ cực nhọc của mình.
Mấy lần có dịp về làng nhưng cứ vội vội vàng vàng rồi ra đi. Hội làng năm tới, kỷ niệm cái tuổi tri thiên mệnh, mình sẽ lại về làng Tân An Gờ rát, chắc chắn khi đó mình sẽ hỏi dò tin tức ả Luân xem sao. Hãy cứ mong rằng ả đang có một gia đình hạnh phúc, biết đâu mình lại có dịp ngồi nhà ả uống trà và kể lại cho ả nghe chuyện tập xe đạp năm nào, biết đâu đấy.
image
Đà Lạt, ngày giỗ đầu của mạ,  16/3/2012.

NÓI VỚI EM


photo
Một thày giáo đích thực em ạ, phải đồng thời là một người đàn ông đích thực. Thày biết yêu quê hương đất nước,  luôn tận tụy với nghề, ghét thói giả dối đớn hèn, và hẳn nhiên, thày luôn biết hết mình vì cái đẹp.
Khi xưa, biết Thái Tử Tất Đạt Đa sắp giác ngộ dưới cội Bồ đề, Ma Vương đã sai ba ma nữ xinh đẹp tuyệt luân ăn mặc hở hang, uốn éo dâm đãng, kéo đến hòng mê hoặc Thái Tử. Nhưng  Thái Tử  xếp bằng tĩnh tọa, tâm như nước lặng, sắc đẹp trước mặt mà nhìn như không thấy, bọn ma nữ tẽn tò phải cuốn gói ra đi.
Không may, thày giáo em chưa là người giác ngộ, mắt môi lúng liếng thế kia làm sao thày không thấy, nẩy nở dường kia thì tâm của thày không xuyến xao sao được,  hả em.
Có khi mọi thày giáo trên đời nên tham gia một khóa học tu thiền để đạt đạo dưới một gốc...trâm bầu nào đó. Thế thì, mọi cô học trò xinh xắn như em nào có mảy may động đến tâm can thày cho được; thế thì thày sẽ nhìn mọi cô gái đẹp trên đời như thày chùa nhìn chiếc lược, thế thôi.
Hỡi ôi, nếu như thế thì thày có còn gì sống động nữa đâu mà em đến học? Em còn đến lớp làm gì khi những lúng liếng xuyến xao, bao nẩy nở xuân thì , chỉ mang đến đổ vào gốc trâm bầu lạnh lẽo?
Vì thế em ơi, tất cả những gì em cần làm để giúp thày của em là đừng biến mình thành ma nữ,  xin đừng đặt thày của em vào thử thách cam go khó lòng vượt thoát, nha em.
Nếu không thế, thày không chắc rằng một ngày kia thày không phạm lỗi; nếu không thế, biết đâu được một ngày kia thày lại thêm một lần sám hối.
Nhé em!

ĐÙNG! ĐÙNG! ĐÙNG!

Tặng Nguyễn Văn Minh
 
     Hắn quê Cam Lộ, Quảng Trị, học cùng lớp vật lí Đại học Sư phạm Huế khóa 1981 – 1985 với mình. Sau ngày ra trường mình nhận quyết định lên Tây Nguyên làm ông giáo làng rồi bặt tin tức của hắn từ đó.
    Đùng một cái khoảng năm 2000 hay 2001 gì đó hắn gọi điện thoại cho mình từ Hàn Quốc, nói mới biết được số điện thoại của mình nên gọi hỏi thăm. Mới biết hắn đã là một ông Tiến sĩ của Trường Đại học Sư phạm 1 Hà Nội, đi dạy nước ngoài nhiều hơn trong nước. Kể từ đó, mỗi dịp Tết đến Xuân về mình với hắn vẫn nhắn tin, điện thoại thăm hỏi nhau đều đặn.
    Thời còn học chung với nhau hắn cũng không thuộc loại xuất sắc cho lắm. Nói thật là mình chẳng có ấn tượng gì về cái sự học của hắn. Tuy nhiên mình lại rất nể hắn vế cái tính nghiêm túc, chính xác và chỉn chu trong học tập. Thời ấy mình thuộc loại vô tổ chức, thích tạt ngang tạt ngửa bạt mạng, chả tham gia vào cái gì thực sự nghiêm túc, kể cả chuyện học hành. Dù có quan trọng cách mấy mà có đứa nào rủ rê đàn đúm là a lê, tham gia liền. Tối học nhóm ở trường, thằng Hoàn bên khoa toán tìm mình, bảo mới cua được một em xinh lắm tận bên Tây Lộc, rủ mình qua nhà nó chơi, ô kê nghỉ học lên đường ngay; Học một giờ chính trị chán ngắt, thằng Đăng ngồi cạnh nháy mắt, ê đi cà phê 22 Trương Định đi, xong luôn, mười phút sau đã phì phèo ngoài quán; Có hôm mình với hắn xách cặp lên thư viện học, đi ngang cái sân cỏ có mấy đứa chia phe đá bóng  đang thiếu chân thế là mình sà vào sân, bái bai luôn thư viện...
     Hắn thì không bao giờ, khi đã đến giờ học dù bất kể ở nhà, ở lớp hay thư viện thì đừng hòng có ai rủ hắn đi đâu. Hắn cũng ít khi tham gia đàn đúm hay chơi văn nghệ thể thao cùng bạn bè. Thi thoảng hắn cũng có ôm ghi ta bập bùng mấy nốt chiếu lệ rồi kiên quyết buông đàn đi thư viện học. Vài lần khác hắn cũng ghé sân bóng ngồi xem bạn bè, bình luận dăm ba câu nhạt thếch, được vài phút là hắn đứng lên phủi đít vào thư viện.
photo
                                                                    Đại học Sư phạm Huế, tháng 3 -1985
       Đùng một cái hắn trở thành thầy hướng dẫn luận văn thạc sĩ của mình. Chuyện là năm 2006 khi chuẩn bị làm luận văn tốt nghiệp cao học mình rất thích lĩnh vực vật lí chất rắn đặc biệt là công nghệ nanô. Nghe mọi người giới thiệu mình tìm cách liên hệ với ông Giám đốc Trung tâm nghiên cứu nanô của trường Trường Đại học Sư phạm 1 Hà Nội. Thế quái nào mà đó lại chính là hắn, lúc này đã là Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh, một trong những TS đầu ngành có tiếng  về vật lí chất rắn ở Hà Nội. Mình nhắn tin "Mày làm thầy hướng dẫn luận văn thạc sĩ về na nô cho tao nhé", hắn trả lời "Ô kê". Chấm hết, chuyện chỉ có thế, hiểu nhau quá mà.
       Có dịp làm việc với hắn mình gặp lại cái tính nghiêm túc, khoa học từ thuở sinh viên nay đã nâng lên thành tầm công nghệ của hắn. Thời gian đầu chỉ làm việc qua email, điện thoại nhưng hắn đã giao cho mình cả đống tài liệu khủng khiếp lại toàn tiếng Anh bắt phải xử lí sớm, hắn làm cứ như mình không còn việc gì để quan tâm nữa, hi hi. 
photo

                                Hà Nội, tháng 7 - 2007
      Tháng 7, năm 2007 để hoàn thành luận văn mình ra Hà Nội gần một tháng.  Hàng ngày chứng kiến phong cách làm việc rất nhanh nhẹn và hiệu quả của hắn mình lại càng nể. Không hiểu với một thân hình nhỏ thó từ thuở sinh viên như thế hắn đào đâu ra sức lực để giải quyết hết khối công việc không lồ của một ông giám đốc, một chủ nhiệm khoa lí, một giảng viên, chưa kể việc nhà cùng một núi những công việc hằm bà lằng khác. Tuy thế hắn vẫn rất tận tụy, trách nhiệm với những sinh viên hay nghiên cứu sinh do hắn hướng dẫn. Hình như hắn còn có vẻ lo lắng cho cái luận văn của  mình hơn cả người thực hiện,  hi hi. Mãi cho đến khi vào Đà Lạt tháng 12-2007, chứng kiến thằng bạn – học trò, bảo vệ thành công luận văn xong hắn mới yên tâm cười toe toét, giãn hết cả mặt mũi ra để lên máy bay về Hà Nội.
photo
Đà Lạt, tháng 12 - 2007
      Sáng nay, lại đùng một cái, hắn gọi điện thoại báo tin thứ sáu này (ngày 20/4/2012) Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tổ chức lễ trao quyết định - bàn giao chức Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm 1 Hà Nội cho hắn, kết quả của sau hai vòng bỏ phiếu hắn đều đứng đầu. Thực sự thì mình cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên vì chuyện này, về cả cái tâm và cái tầm hắn xứng đáng với chức vụ Hiệu trưởng một Trường Đại học Sư phạm hoặc hơn thế, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã không chọn nhầm người. Chúc mừng Minh, với những phẩm chất sẵn có Minh có thể còn đi lên trong đời.
     Ngó lại cái thằng tôi là mình đây vẫn đang mãi loanh quanh với cái chân chuyên viên làng nhàng, cái thói vô tổ chức không những không bỏ đi được mà xem ra càng nặng hơn, he he. 
     Tự nhiên thấy cũng cần tự chúc mừng chính mình, thật may là mình vẫn còn nguyên vẹn tâm sức để tiếp tục tạt ngang tạt ngửa với đời, he he.
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển (giữa) chúc mừng tân Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội (ngoài cùng bên phải). ẢNh: gdtd.vn
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển (giữa) chúc mừng tân Hiệu trưởng Trường ĐHSP HN (bên phải).
Ảnh: gdtd.vn
Ảnh mới copy từ báo Giáo dục và Thời đại (20/6/2011):
http://www.gdtd.vn/channel/3005/201204/Cong-bo-quyet-dinh-bo-nhiem-Hieu-truong-truong-DHSP-HN-1960763/

ĐÀ LẠT, SỚM MAI

Sớm mai thì ở đâu cũng tinh khiết trong lành, nhưng với Đà Lạt thì có những nét quyến rũ đắm say lòng người mà không phải ở đâu cũng có được. Một sớm mai như thế xách máy ảnh lang thang một vòng hồ Xuân Hương, mình cứ quýnh cả lên không biết phải bắt đầu ghi lại hình ảnh nào vì nhìn đâu cũng thấy đẹp, nhìn đâu cũng chỉ muốn hòa tan vào đó...

1. Hãy bắt đầu bằng hồ Xuân Hương vậy, tấm gương phẳng lặng giữa lòng thành phố cho hàng thông xanh soi bóng.






2. Không thể quên tình tự với rừng thông Đà Lạt. Nắng hàng thông, nắng mới lên không biết có giống như nắng hàng cau nơi thơ Vỹ của Hàn Mặc Tử không nhỉ?






3. Và giờ thì đến hoa, tất nhiên. Hoa Đà Lạt muôn đời vẫn thế: nồng nàn, thắm tươi, mời gọi. Gọi rằng: "Ai lên xứ hòa Đào, đừng quên mang về một cành hoa...".






4. Nét nhộn nhịp của sớm mai cũng rất Đà Lạt, nhẹ nhõm và đáng yêu biết bao...
   Là những người thong dong tản bộ trên những lối đi xanh...


Là đôi vợ chồng say sưa giúp nhau làm ấm phận người...


Là một chú ngựa lặng yên ngẫm ngợi về một ngày tiếp theo trong kiếp ngựa...


Và, hỡi ôi! Những cánh tay sắt, những cái đầu sắt, sát thủ của màu xanh Đà Lạt. Liệu có còn không những sớm mai Đà Lạt quyến rũ lòng người...



Dalat, 6/2012

LAN MAN CHUYỆN VÕ CHUYỆN VĂN*

(*) BÀI THAM LUẬN TẠI ĐẠI HỘI LIÊN ĐOÀN VÕ THUẬT LÂM ĐỒNG LẦN THỨ I
NHIỆM KÌ 2012 – 2017,  NGÀY14/9/2012
  photo
Kính thưa...
 Từ lâu con người đã nhận ra rằng vũ trụ của chúng ta được tạo dựng, cuộc sống được vận hành, con người được thoát thai từ những cặp phạm trù tưởng như đối lập nhau: âm và dương, nhu và cương, đêm và ngày, thuận và nghịch, có và không, tốt và xấu… qua đó mà sinh sinh hoá hoá đến khôn cùng, trong đó có cặp phạm trù Văn và Võ.
Có lẽ nhận ra điều đó nên trong suốt qua trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, các bậc tiền nhân đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm về ứng xử, về phép tu thân liên quan đến cặp phạm trù Văn-Võ. Trong văn hóa dân gian Việt Nam cũng tồn tại nhiều câu đúc rút liên quan đến Văn & Võ như: “Văn võ song toàn”, “Văn ôn võ luyện” hay “Văn dốt võ dát”...Tôi rất thích một câu nói dân gian đầy triết lí như thế: "Văn không võ là văn nhu nhược. Võ không văn là võ bạo tàn".  như một lời khuyên hay không chỉ cho việc tu thân, mà còn cho cả công cuộc giữ nước, chống ngoại xâm.
Nhân Đại Hội này, tôi xin được nêu lên đôi điều suy nghĩ, có thể còn thô thiển của mình xung quanh câu nói này với mong muốn cung cấp một phương hướng, một cách nhìn cho chúng ta, những người Thầy, những Huấn luyện viên Karatedo tiếp tục hoàn thiện mình cũng như truyền dạy cho võ sinh về cái đẹp của võ cùng phương pháp kết hợp giữa võ và văn trong việc hoàn thiện nhân cách con người mới, những người chủ tương lai của đất nước.
   Trước hết, theo tôi không nên  hiểu Văn và Võ chỉ theo nghĩa đen của nó, đại loại: văn là người dạy văn và học văn, là văn chương, văn học; Còn võ là người dạy võ và học võ, là cơ bắp là đấm đá...
Tuy không minh bạch như khái niệm đêm và ngày, nhưng vẫn có thể định hình khái niệm Văn và Võ. Văn, thuộc phạm trù của nhu, của tĩnh; của tình cảm, tâm hồn, yêu thương, bao dung, hoà hợp, hoà bình, cảm thông, chia sẻ… lai láng và tĩnh lặng như nước. Võ, thuộc phạm trù của cương, của động, của đối kháng, của sức mạnh, niềm tin, ý chí, bản lĩnh, tiết tháo… rần rật và dữ dội như lửa.
Trong sự hiểu như thế thì những biểu hiện song đôi Văn-Võ dường như vẫn hiện diện bàng bạc trên nhiều khía cạnh trong cuộc sống hàng ngày xung quanh ta.
Hãy xem xét vế đầu của câu nói: "Văn không võ là văn nhu nhược”- điều này thì đã quá rõ. Đã có những cuốn sách, bài thơ, bài hát (Văn)…mà sau khi tiếp xúc người ta bỗng cảm thấy buồn nản, suy giảm ý chí, mất niềm tin…đó đích thị là “Văn không võ” và hậu quả “nhu nhược” của nó là nhãn tiền: Con người mất hết nhuệ khí. Đến nỗi có nhà thơ đã phải cảnh báo  Nay ở trong thơ nên có thép/Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
Vậy thì thế nào là “Văn” có “Võ” ? Những tác phẩm văn nghệ có giá trị đích thực luôn mang lại cho người đọc, người xem một cảm nhận tốt đẹp, một nghị lực sống mới để làm hành trang trong đời. Muốn thế, tác phẩm phải chứa đựng những giá trị nhân văn được số đông người trong  xã hội chấp nhận và coi đó là phương châm sống, phương châm hành động của mình . Đó chính là tính võ trong văn.
 May thay, dân tộc ta có không ít những áng văn đẹp như thế; những nhà văn biết dùng ngòi bút của mình để “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Từ xa xưa trong lịch sử chống Bắc thuộc, cha ông ta đã từng dùng Văn - một thứ vũ khí trí tuệ sắc bén để “trị” kẻ thù.  Những câu đối đáp thông minh sắc sảo qua những lần đi sứ; những áng văn bất hủ như “Hịch tường sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi… thấm đẫm lòng nhân ái nhưng cũng mang đầy khí phách dân tộc Việt. Là con dân Việt, ai mà chẳng biết đến áng thiên cổ hùng văn "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt trên trận tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) chống quân Tống xâm lược. Chỉ là một thứ vũ khí “văn” nhưng tương truyền: "Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống thì sợ khiếp đảm, không đánh đã tan". Mới thấy sức mạnh của võ trong văn là không hề nhỏ.
Văn và Võ đôi khi thể hiện nội tại bên trong một con người, một hành động. Người xưa có vẻ rạch ròi khi quan niệm về văn và võ. Đã là quan văn thì phải “dài quần” còn quan võ thì dứt khoát phải “Râu hùm hàm én mày ngài/Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”. Phải thế chăng mà cho đến nay nhiều người vẫn quan niệm rằng võ đồng nghĩa với “vai u thịt bắp”?  Họ đã không biết rằng sức mạnh thực sự của võ không ở trong cơ bắp mà chứa đựng trong cái nhu nhuyễn, trong cái tâm bình an thư thái, nghĩa là trong văn?
Bên cạnh những người yếu ớt cả về thể xác lẫn tinh thần “trói gà không chặt”, lúc nào cũng nhớn nhác, tâm trí đầy hãi sợ, chỉ chực chạy trốn; hay ngược lại có những kẻ lúc nào cũng phồng mang trợn mắt thích lên mặt dọa người (nhưng thực chất là những kẻ hèn nhát), tôi rất ngưỡng mộ những người mà bề ngoài trông có vẻ nhu hòa mềm mỏng nhưng bên trong họ chứa đựng một sức mạnh vô biên không thể khuất phục. Tính võ trong những con người này ẩn tàng sau một cái bề ngoài rất văn và dưới một cái tâm tĩnh lặng như mặt hồ. Lịch sử nước Việt ta có không ít những tấm gương như thế.
Đàn ông vốn luôn tự hào là “phái mạnh”, còn phụ nữ - một nửa nhân loại đáng yêu của thế giới – lại được xem là “phái yếu” có lẽ do cái bề ngoài rất “văn” của họ? Thôi, có lẽ khỏi bàn về cái đẹp tuyệt vời của phụ nữ mà tạo hóa ban cho họ, chỉ có điều xin đừng nhầm lẫn khi cho là phe tóc dài là “yếu” là chỉ biết nhu nhược nhé. 
Trong  bức hình “O du kích nhỏ”,  “Thằng Mỹ” đích thị là phái mạnh, là võ, còn “O du kích nhỏ” là phái yếu, là văn, nhưng hãy cứ xem ai là võ ai là văn thì biết:

O du kich nho.jpg
          O du kích nhỏ giương cao súng
          Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu
          Ra thế! to gan hơn béo bụng
          Anh hùng đâu cứ phải mày râu
Có lẽ chúng ta cũng không quên hình ảnh chị Võ Thị Sáu mảnh mai trên đường ra pháp trường , mái tóc cài hoa, miệng hát vang bài ca Cách mạng, bình thản đón nhận cái chết. Giữ vững khí tiết người chiến sỹ Cách mạng đến phút cuối cùng:
"Người con gái trẻ măng /Giặc đem ra bãi bắn /Đi giữa hai hàng lính /Vẫn ung dung mỉm cười /Ngắt một đóa hoa tươi /Chị cài lên mái tóc /Đầu ngẩng cao bất khuất ...". ( Chị Võ Thị Sáu _Tố Hữu).
Thế đấy! Chất võ - khí phách hiên ngang của con cháu bà Trưng bà Triệu trong con người tưởng như mềm yếu của các chị khiến các chi luôn luôn là kẻ chiến thắng. Trong khi những tên lính rằn ri trang bị đến tận răng thì lại run sợ, khiếp vía. Với tư cách là một “phái mạnh”, tôi xin được nghiêng mình trước các chị.
Không phải ngẫu nhiên mà từ xưa “Văn võ song toàn” đã luôn là mơ ước của nhiều người, của những ông bố bà mẹ trong việc giáo dục con cái. Các triều đình xưa cũng luôn phải có hai hàng quan văn quan võ mỗi khi Vua thiết triều bàn việc nước. Trong việc tu thân Văn và Võ như là hai chân cần thiết để con người bước đi một cách vững chãi trong đời, thiếu đi một trong hai chân ấy con người ta khó lòng mà đi đến bến bờ hạnh phúc. Vấn đề là người ta phải biết kết hợp sử dụng văn và võ như thế nào cho hiệu quả.
Phật giáo có khái niệm Bi - Trí - Dũng. Nhân từ và yêu thương, nếu không có trí huệ sáng suốt phân định và soi đường thì Bi ấy sẽ dẫn đến mù loà, lầm lạc. Có Bi và Trí, mà không có dũng khí để thực hiện thì Bi và Trí chỉ là lời nói suông. Trong đời, không phải ai cũng làm được những việc kinh thiên động địa, nếu như không có sức mạnh và dũng khí. Nhưng nếu sức mạnh và dũng khí ấy không được đặt trên nền tảng trí tuệ và nhân văn thì hắn ta sẽ trở thành kẻ ác nhân, tàn bạo, huỷ diệt; như cướp của, giết người, gieo rắc chiến tranh.
Một nhà giáo dục phàn nàn rằng, ngày nay người tài không hiếm mà người dũng thì khó tìm. Cho nên, những ai đã có duyên đến với võ, hãy cố công trui rèn sao cho thấu đạt được tinh thần của võ, đạo đức và cốt cách của võ, để sống mà không ai phải chê trách mình: Có tài có đức đấy nhưng sao hèn quá.
Con người ta sinh ra ai cũng sống. Nhưng điều quan trọng là sống như thế nào. Sống mà hèn hạ, cúi lòn là sống nhục. Cho nên, con người hoàn thiện là con người có đôi chân văn - võ song toàn: một trí tuệ sáng suốt, một trái tim yêu thương, một nhân cách chân chính - “Không thấy giàu mà ham, không vì nghèo mà đổi lòng, không trước bạo lực mà sợ”; luôn mang lại điều tốt lành cho nhân quần xã hội; là niềm tin yêu và kính trọng của mọi người…sống như thế cho dù có phải hy sinh vì chính nghĩa thì tiếng tăm vẫn lưu mãi đời sau.
Ở bình diện của một quốc gia việc kết hợp nhuần nhuyễn cả Văn và Võ trong quan hệ bang giao lại càng có ý nghĩa sống còn. Một đất nước nhu nhược thì sớm muộn cũng bị kẻ mạnh lân bang thôn tính; ngược lại một quốc gia chỉ biết hiếu chiến thì cũng dẫn đến suy vong. Triết lí hài hòa âm dương của phương Đông từ xưa vẫn còn nguyên giá trị đến nay.
Trong công cuộc xây dựng đất nước, chống ngoại xâm của dân tộc ta. Tôi rất tâm đắc với nhà thơ Huy Cận khi ông tổng kết sức mạnh Việt Nam:
          “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững,
          Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa.
          Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng,
          Rất hiên ngang mà nhân ái chan hoà.”
Thế đấy, ngọn bút và cây gươm, nhân ái chan hoà và hiên ngang bất khuất, văn và võ, nhu và cương. Đó là hai dòng nguyên khí tạo nên sức mạnh, niềm tin, và khí phách Việt Nam. Ngày nay, đất nước ta hoà bình, thống nhất, thịnh vượng nhưng cũng không thiếu những nguy cơ. Chúng ta có nhiều bạn bè, nhiều đối tác khắp năm châu, chúng ta đang hân hoan vươn ra biển lớn nhưng chúng ta cũng không thiếu những kẻ thù lăm le xâm chiếm bờ cõi. Thiết nghĩ, dù đứng trước kẻ thù hay đứng trước đối tác làm ăn, mỗi dân tộc đều phải cần có sức mạnh, niềm tin, và khí phách. Thiếu sức mạnh, niềm tin, và khí phách, thì không thể đánh thắng giặc ngoại xâm; thiếu sức mạnh, niềm tin, và khí phách, cũng không thể làm ăn sòng phẳng với người.
Và, chúng ta – những người thầy đang huấn luyện võ, huấn luyện Karatedo cho nhiều lớp thế hệ trẻ tại địa phương Lâm Đồng, liệu chúng đóng góp được gì cho sức mạnh, niềm tin, và khí phách Việt Nam? Chẳng lẽ mục đích mở lớp võ của chúng ta chỉ để thu tiền? Hay chỉ để tìm mọi cách giành giật những chức danh phù du nào đó?
Xin quý vị hãy tự trả lới câu hỏi này.
Xin cám ơn Đại Hội đã lắng nghe.

photo

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Karatedo gần 30 năm “bén rễ” trên thành phố hoa

Thành phố Đà Lạt mộng mơ với khí hậu mát mẻ quanh năm không chỉ là miền đất của cảm hứng nghệ thuật thơ, ca, nhạc, hoạ mà nơi đây còn quy tụ nhiều võ phái đến truyền bá, phát triển. Karatedo (Không thủ đạo) là một trong những môn võ đã bén rễ và mang lại thành công trên thành phố hoa gần 30 năm nay.
Các võ sinh Karatedo Đà Lạt luyện binh khí
Các võ sinh Karatedo Đà Lạt luyện binh khí

Những người đi truyền võ đạo

Người đầu tiên đưa môn Karatedo lên với thành phố sương mù Đà Lạt đó là võ sư Nguyễn Quốc Tuý - Huyền đai Đệ Ngũ đẳng, trọng tài quốc gia, cán bộ chuyên trách môn Vật lý của Sở GD - ĐT Lâm Đồng. Năm 1985, sau khi tốt nghiệp khoa Vật lý, Trường Đại học Sư phạm Huế, võ sư Nguyễn Quốc Tuý lên Đà Lạt dạy học và mang theo “truyền mệnh” của thầy mình là võ sư Nguyễn Văn Dũng (Phân đường Nghĩa Dũng ở Huế), đó là “phải ươm mầm và phát triển phong trào Karatedo trên thành phố sương mù”. Thực hiện lời dặn của thầy, võ sư Nguyễn Quốc Tuý vừa dạy học vừa mở lớp dạy võ cho các học sinh của mình. Môn Karatedo mà võ sư Nguyễn Quốc Tuý đưa lên với thành phố hoa Đà Lạt thuộc hệ phái Suzucho do võ sư người Nhật Bản tên là Suzuki Choji trực tiếp truyền bá vào Việt Nam những năm 50 của thế kỷ trước cùng với tinh thần võ đạo truyền thống của Tổ sư Funakoshi Gishin. Suzucho Karate Do hay còn gọi là Linh trường Không thủ đạo luôn hướng con người đến sự hoàn thiện, hoàn mỹ và không ngừng vươn lên chiến thắng chính mình. Với tinh thần võ đạo ấy, ngoài những giờ lên lớp trên bục giảng, thầy giáo Nguyễn Quốc Tuý lại đóng võ phục và lên sân tập để dạy cho học sinh những đòn thế cơ bản, những bài quyền và cả những triết lý nhân sinh thông qua võ đạo. Lớp võ đầu tiên của huấn luyện viên Nguyễn Quốc Tuý được mở tại xã Xuân Trường - thành phố Đà Lạt và võ sinh chủ yếu là những học sinh phổ thông trên địa bàn. Những võ sinh của lứa đầu tiên ấy sau này nhiều người đã trở thành những vận động viên xuất sắc và những huấn luyện viên kỳ cựu của làng võ Karatedo trong và ngoài tỉnh.

Sau võ sư Nguyễn Quốc Tuý thì Karatedo Đà Lạt đã được bổ sung thêm hai huấn luyện viên xuất sắc nữa, đó là võ sư Lê Vĩnh Đắc và Lê Thanh Phong. Họ đều là những môn sinh xuất thân từ Võ đường Nghĩa Dũng ở Huế. Sau một lần cùng các đồng môn từ Huế vào tham gia biểu diễn ra mắt môn phái tại thành phố Đà Lạt, trong đó có võ sư Lê Vĩnh Đắc (nay là giáo viên Trường THPT Bùi Thị Xuân Đà Lạt) với các đòn thế hoa mỹ, đẹp mắt đã nhận được sự tán thưởng nồng nhiệt từ các nam thanh nữ tú trên thành phố hoa. Từ đó võ sư Lê Vĩnh Đắc đã tình nguyện ở lại với thành phố sương mù để làm nghề dạy học và phát triển Linh trường Không thủ đạo nơi xứ hoa đào này. Đến nay đã có hàng ngàn võ sinh được anh đào tạo ra lò và nhiều người đã trở thành những huấn luyện viên, vận động viên ưu tú xuất sắc đóng góp cho sự phát triển của phong trào thể dục thể thao tại địa phương. Cũng giống như võ sư Lê Vĩnh Đắc, lần đầu đặt chân đến và say đắm với nét duyên dáng và mộng mơ Đà Lạt nên chàng trai lãng tử Lê Thanh Phong đã tìm cách đến với thành phố Cao nguyên để vừa học văn khoa Đại học Đà Lạt vừa “gieo võ”. Thế rồi cứ ban ngày cùng bạn bè đồng môn cắp sách lên giảng đường để tiếp thu những tinh hoa văn chương của nhân loại, rồi tối đến chàng sinh viên văn khoa Lê Thanh Phong lại khoác Kimono trắng lên sân tập truyền bá tinh hoa võ học Không thủ đạo cho các giảng viên dạy mình và đồng môn văn khoa. Sau khi đã lĩnh hội được những kiến thức văn chương dưới mái trường đại học, Lê Thanh Phong lại tiếp tục “xuống núi” lập nghiệp, tiếp tục truyền bá võ thuật Linh trường Không thủ đạo tại thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai. Văn võ song toàn, ngoài những bài quyền, đòn cước đẹp mắt thì Lê Thanh Phong là một nhà báo giỏi, một cây bút phóng sự và chính luận nổi tiếng không chỉ riêng ở tờ báo Lao Động. Cũng chính nhờ những đòn thế tinh hoa của Karate mà anh đã tránh được sự hành hung của kẻ xấu trong những lần tác nghiệp nơi nguy hiểm.

Karatedo không ngừng nở rộ trên thành phố hoa

Từ 10 võ sinh ban đầu do võ sư Nguyễn Quốc Tuý tuyển chọn đào tạo tại xã vùng ven Xuân Trường – Đà Lạt, Karatedo đã phát triển và lan truyền mạnh mẽ đến các địa phương khác trong tỉnh. Trải qua gần 30 năm ươm mầm và phát triển Karatedo ở Đà Lạt nói riêng và Lâm Đồng nói chung đã có những bước đi vững chãi và gặt hái nhiều thành công đáng ghi nhận.

Năm 1989, sau một thời gian ngắn mở lớp dãy võ, võ sư Nguyễn Quốc Tuý đã tự túc kinh phí xin phép Sở Văn hoá Thông tin (nay là Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch) dẫn 3 vận động viên Đà Lạt đại diện cho Lâm Đồng ra Hà Nội tham gia giải Karatedo quốc gia thử nghiệm. Trong lần đầu tiên tham gia giải đấu ấy, thật bất ngờ các vận động viên đã giành được tấm Huy chương Đồng và cũng từ đó mà Karatedo được các ngành chức năng của tỉnh quan tâm nhiều hơn. Để củng cố cho sự phát triển bền vững của Karatedo trên thành phố ngàn hoa Đà Lạt, năm 1990, Hiệp hội Karate Lâm Đồng ra đời và chỉ một năm sau Karatedo Lâm Đồng thêm một lần nữa được khẳng định khi vận động viên Trần Anh Minh - một trong những võ sinh Karatedo đầu tiên của Đà Lạt tham gia giải Vô địch quốc gia lần thứ I năm 1991 tại Hà Nội và mang về chiếc Huy chương Vàng cho đoàn Lâm Đồng. Sau đó, hàng năm, các vận động viên Karatedo Đà Lạt đã tham gia đều đặn các giải đấu khu vực và toàn quốc và luôn giành được huy chương.

Hiện nay, Lâm Đồng có 26 câu lạc bộ Karatedo với hơn 1.500 võ sinh tham gia tập luyện. Trong đó, riêng cái nôi Đà Lạt có 5 câu lạc bộ với hơn 300 võ sinh đang theo học. Đội ngũ huấn luyện viên và hướng dẫn viên Karatedo toàn tỉnh hiện có hơn 30 người, trong đó có 16 huấn luyện viên từ 3 đẳng trở lên. Karatedo Lâm Đồng hiện có một kiện tướng quốc gia đó là vận động viên Nguyễn Thị Kim Lan đã giành Huy chương Vàng vô địch tuyệt đối ở Cúp các câu lạc bộ mạnh toàn quốc năm 2001. Tháng 9/2012 vừa qua, Liên đoàn Karatedo Lâm Đồng đã được thành lập để đưa phong trào Karatedo ngày càng phát triển.

Đánh giá về hoạt động của Karatedo Lâm Đồng, ông Vũ Văn Quang - Phó Giám đốc Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Lâm Đồng cho biết: “Trải qua gần 30 năm truyền bá và phát triển trên thành phố Đà Lạt cũng như các địa phương khác trong tỉnh, Karate đã góp phần giáo dục con người mới đẹp cả về thể chất lẫn tinh thần để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương”.

DUY NGUYỄN
http://baolamdong.vn/thethao/201301/Karatedo-gan-30-nam-ben-re-tren-thanh-pho-hoa-2213023/